13
Nhị gia không cần ta sinh thêm con để làm chỗ dựa nữa, nên mỗi khi đến phòng ta, huynh ấy chỉ cần cùng ta trò chuyện. Dần dần, ta và phu thê họ cũng trở nên thân thiết như người một nhà.
Hữu Nghi lúc còn nhỏ đáng yêu vô cùng. Con bé cứ tưởng ta là muội muội của phu nhân, mỗi lần không tránh được phải gặp nhau, đều ngọt ngào gọi ta một tiếng:
“Dì ơi.”
Một tuổi, con bé chảy dãi khắp nơi, ta làm khăn lau miệng cho nó.
Ba tuổi, nó nghịch ngợm chẳng khác gì Huệ tiểu thư. Ta lặng lẽ đi theo phía sau, không dám bỏ sót dù chỉ một khoảnh khắc.
Bốn tuổi, nó cãi nhau với Huệ tiểu thư rồi khóc trong sân. Ta không dám xuất hiện dỗ dành, chỉ có thể hái thật nhiều cánh hoa, bảo tiểu nha hoàn rắc hết lên đầu nó. Con bé từ khóc chuyển sang cười, mà nụ cười ấy tựa như cũng nở trong lòng ta.
Sáu tuổi bắt đầu học chữ, bảy tuổi được mời nữ tiên sinh đến dạy học.
Từng chuyện từng chuyện, ta đều vui vẻ ghi nhớ thay nó.
Hữu Nghi của ta, cũng lớn lên xinh đẹp chẳng kém Huệ tiểu thư!
Nhưng đến năm tám tuổi, con bé xông vào căn phòng nhỏ của ta, vành mắt đỏ hoe, hỏi:
“Dì Tuyết, họ nói dì mới là mẹ ruột của con, có thật không?”
Một tiểu nha hoàn chạy theo phía sau, khóc t.h.ả.m thiết:
“Tiểu thư, là nô tỳ nói bừa, người đừng hỏi nữa. Nếu để phu nhân biết, nô tỳ sẽ bị đ.á.n.h c.h.ế.t mất.”
Những tiểu nha hoàn cùng tuổi đi theo tiểu thư thường vẫn có phần ngây thơ. Nàng nghe cha mẹ mình nhắc đi nhắc lại đôi câu chuyện phiếm, liền không nhịn được mà kể hết cho Hữu Nghi.
Ta hoảng đến mức tay chân run rẩy, nhưng vẫn cố giữ bình tĩnh, lắc đầu:
“Tam tiểu thư đừng trêu ta nữa. Người được nuôi dưỡng trong viện phu nhân, sao có thể là do ta sinh ra?”
Nhưng trên bàn ta vẫn còn đặt một chiếc khăn tay thêu hoa đào.
Đó là kiểu hoa con bé thích nhất.
Con bé tức tối trừng mắt nhìn ta, không nói thêm gì nữa, chộp lấy chiếc khăn rồi chạy đi.
Ta muốn đuổi theo, nhưng hai chân mềm nhũn, đến một bước cũng không nhấc nổi.
Mãi đến khi người của phu nhân mang thư đến cho ta.
Trong thư nói Huệ tiểu thư đang khuyên nàng, chỉ là nàng tiểu nha hoàn kia thì phu nhân thế nào cũng không chịu phạt hay đuổi đi.
Ta thấp thỏm chờ đợi.
Sợ con bé làm loạn, sợ có kẻ có lòng truyền ra ngoài, sợ dấu ấn xuất thân của ta sẽ in lên người nó.
May mà, may mà cuối cùng mọi chuyện cũng yên ổn trôi qua.
Nhưng ta không dám tiếp tục thường xuyên lén lút trốn trong bóng tối nhìn con bé nữa.
Những ngày tháng bỗng trở nên thật khó khăn.
Ngày sinh thần của ta, phu nhân bày cho ta một bàn tiệc rượu. Nàng và Nhị gia phải ra ngoài dự tiệc, không thể đến.
Tiểu nha hoàn hầu hạ ta uống vài chén, sau đó say rượu, bị ta sai về ngủ.
Hữu Nghi chính là vào lúc này bước vào.
Trên tay con bé cầm một cuộn tranh chữ, khuôn mặt nhỏ vẫn phồng lên tức tối.
Nó đi đến bên cạnh ta, mở cuộn tranh ra, nói:
“Gần đây tiên sinh đang dạy chúng con viết chữ ‘thọ’. Mẫu thân nói làm người phải cần kiệm. Đã viết rồi thì tặng cho dì vậy!”
Con bé làm bộ chẳng để tâm, nhưng trong ánh mắt lại vô thức lộ ra vẻ mong đợi.
Mong ta vui.
Thật ra căn bản ta không cần bức chữ ấy.
Ngay từ khoảnh khắc con bé bước vào phòng, ta đã biết tất cả đều đáng giá.
Phu nhân dạy con bé thật tốt, tốt đến mức ngay cả người mẹ ruột như ta, con bé cũng chịu nhận.
Ta không nhịn được ôm c.h.ặ.t lấy nó.
Con bé khẽ nức nở bên tai ta:
“Tỷ tỷ nói dì làm tất cả đều là vì con. Chỉ cần trước mặt người ngoài, con là người lớn lên bên cạnh mẫu thân, cho dù biết thân thế của mình, tương lai của con cũng sẽ tốt hơn nếu lớn lên bên cạnh dì.
“Vậy nên… con không thể gọi dì là mẹ sao?”
Lời của con bé khiến tim ta như nảy lên một nhịp.
Ta lo lắng kéo nó ra, nhìn từ trên xuống dưới:
“Có chuyện gì vậy? Phu nhân đối xử với con không tốt sao? Không thể nào, người tốt như vậy…”
Con bé cúi đầu:
“Mẫu thân đương nhiên tốt. Người là người tốt nhất trên đời.
“Nhưng con biết con không giống tỷ tỷ. Ánh mắt người nhìn chúng con khác nhau, chính là khác nhau.
“Cũng giống như bây giờ, chính là ánh mắt dì đang nhìn con đây. Dì có nhận con hay không, con cũng biết dì là mẹ con.
“Mẹ, con hiểu chuyện mà. Trước mặt người khác con không gọi, nhưng để con lén gọi dì là mẹ, có được không?”
14
Không người mẹ nào có thể cứng rắn hơn một đứa trẻ cố chấp.
Từ đó về sau, mỗi năm đến sinh thần, đều trở thành ngày ta mong chờ nhất.
Nhưng năm Hữu Nghi mười tuổi, Thu Sương hiếm khi chủ động đến tìm ta.
Những năm qua, trong lòng chúng ta đều mong đối phương được tốt, nhưng ngoài mặt lại rất ít qua lại.
Nàng gần như quỳ xuống cầu xin ta:
“Tiểu Tuyết, muội giúp ta với. Hạo Nhi đọc sách tốt như vậy, ta không nỡ để nó làm hạ nhân cả đời.”
Chiếc đinh mà năm xưa ta không muốn đóng vào lòng nàng, sau hơn mười năm, cuối cùng vẫn chính tay ta đóng xuống.
Con trai nàng, Liễu Hạo, năm bảy tuổi vào tộc học làm việc.
Năm năm trôi qua, nó vậy mà đã thuộc hết những sách mà ngay cả các thiếu gia cũng không học thuộc nổi.
“Ban đầu chúng ta vốn không dám mơ tưởng nó có thể làm người đọc sách. Nhưng mỗi lần nó nhìn thấy sách, ánh mắt đều sáng lên, khiến ta đau lòng.
“Có một vị tiên sinh tốt bụng trong tộc học lén nói với nó, nếu nó cứ học tiếp, nếu có thể đi thi, sau này hy vọng đỗ cử nhân còn lớn hơn tất cả các thiếu gia trong phủ.
“Những mối quan hệ mà cha nó có thể nhờ vả đều đã nhờ hết rồi, nhưng đi đến đâu cũng chỉ nhận được một câu: ‘Trong phủ này, xưa nay chưa từng cho người chuộc thân.’”
Thu Sương ngẩng đầu nhìn ta, như nhìn cọng rơm cứu mạng cuối cùng:
“Tiểu Tuyết, muội ở nội trạch, xin muội! Muội giúp ta lần này đi!”
Đại địch lớn nhất của Hầu phủ chính là một người từng chuộc thân rời khỏi phủ mấy chục năm trước.
Từ đó về sau, đám hạ nhân trong phủ, trừ khi bị bán đến nơi còn thê t.h.ả.m hơn, tuyệt đối không thể chuộc thân rời phủ.
Vì vậy năm xưa ta mới không chút do dự chọn làm thiếp.
Ta hiểu tấm lòng của một người mẹ như nàng.
Nhưng ta chỉ là một di nương nhỏ bé nhất, không được ai để mắt đến, làm sao có thể giúp nàng?
Nàng nhìn ra vẻ khó xử của ta, vội vàng giải thích:
“Ta không cần muội giúp chuyện gì khác. Ta chỉ cầu muội nghĩ cách, khiến lão phu nhân tháng này đến chùa Trường Ninh dâng hương.”