Cố Thừa Chu lập tức chắn trước người nàng ta, giọng trầm xuống: “Hàm Chương, nàng làm gì vậy! Nàng biết rõ nàng ấy không chịu nổi kích động.”

Ta nhìn tư thế hắn che chở người khác, nơi đã sớm lạnh ngắt trong lòng ta trái lại càng trở nên bình thản.

“Nàng ta không chịu nổi kích động, nên Uyển Uyển phải bị đưa đi. Cố Thừa Chu, chén nước của ngươi quả là cân bằng.”

Ta xoay người, dặn quản sự đang chờ bên ngoài từ đường: “Dẫn người đi kiểm kê của hồi môn của ta. Trước đêm nay, khế trang viên, khế cửa hiệu, sổ trang sức, không được thiếu một món. Thiếu một món, ta sẽ tính lên đầu Cố Thừa Chu.”

Cố Thừa Chu nắm lấy cổ tay ta: “Nàng nhất định phải làm ầm ĩ đến mức này sao?”

Ta giật tay ra, tay áo lướt qua lòng bàn tay hắn.

“Từ khoảnh khắc ngươi đẩy thư bỏ vợ đến trước mặt ta, Cố Thừa Chu, thể diện của Cố gia đã chẳng còn liên quan gì đến hai mẹ con ta nữa.”

2.

Ta ở lại Cố gia hai ngày cuối cùng.

Không phải vì lưu luyến, mà là để dọn cho sạch sẽ.

Quần áo của Uyển Uyển, con ngựa gỗ nhỏ nhũ mẫu để lại, hộp trang điểm gỗ t.ử đàn mẫu thân hồi môn cho ta, đến cả chiếc nồi đồng nhỏ chuyên dùng nấu cháo cho con trẻ trong bếp, ta cũng bảo người xếp hết vào hòm.

Cố lão phu nhân mấy lần sai người đến truyền lời, nói một người đàn bà hòa ly mang theo con nhỏ rời nhà, dù sao cũng phải chừa lại chút đường lui, đừng làm mọi chuyện đến mức tuyệt tình.

Ta sai người trả lời nguyên văn: “Lúc Cố gia muốn đem con gái ta cho người khác, chẳng ai nghĩ phải chừa đường lui cho con bé. Nay ta chỉ lấy lại những thứ thuộc về mình, nào có chuyện làm đến tuyệt tình.”

Sáng sớm mưa vừa tạnh, nền gạch xanh phủ một lớp ánh sáng nhàn nhạt.

Ta nắm tay Uyển Uyển bước ra khỏi cổng Cố gia. Cố Thừa Chu đứng trên bậc đá, vạt áo ướt quá nửa, bên chân đọng một vũng nước mưa nhỏ. Hắn nhìn bọc hành lý nhỏ trên lưng con bé, lúc lên tiếng giọng khàn khàn: “Hàm Chương, nàng cần gì phải về phương Nam? Trong kinh thành đâu phải không có chỗ cho nàng.”

“Trong kinh thành có chỗ nào dung được một đứa trẻ bị Cố gia ruồng bỏ sao?”

Hắn im lặng.

Ta kéo lại áo choàng cho Uyển Uyển, nhìn thẳng vào hắn: “Nếu ngươi thật sự có chút áy náy, thì hãy ém chuyện Nguyễn Minh Đường từng ở chính viện xuống, đừng để người ta lấy Uyển Uyển ra bàn tán. Còn nữa, sau này đừng đến tìm con bé.”

Ánh mắt Cố Thừa Chu chợt biến đổi: “Ta là phụ thân của nó.”

“Lúc ngươi nói trong từ đường rằng sẽ tìm cho con bé một nhà khác, ngươi đã không còn là phụ thân của con bé nữa rồi.”

Uyển Uyển bỗng ngẩng đầu, nhỏ giọng hỏi ta: “Mẫu thân, chúng ta đi đâu thế ạ?”

Ta ngồi xổm xuống, nắm lấy bàn tay ấm áp của con bé: “Đến trấn Lâm Thủy. Nơi đó có một con sông dài thật dài, có hoa đào, còn có cửa hiệu cũ mà ngoại tổ phụ để lại.”

Mắt con bé sáng lên đôi chút: “Phụ thân cũng đi ạ?”

Ta lau giọt nước mưa trên ch.óp mũi con bé: “Không đi. Sau này mẫu thân ở bên con.”

Con bé cái hiểu cái không, vòng tay ôm lấy cổ ta. Khi xe ngựa chầm chậm rời khỏi con phố dài, ta không hề ngoảnh đầu.

Cố Thừa Chu đứng nguyên tại chỗ, nhìn bánh xe nghiền qua vũng nước. Năm ấy ta gả vào Cố gia, hắn cưỡi tuấn mã đến đón, lụa đỏ trải dài nửa con phố. Hắn nói gia quy Cố gia lạnh lùng cứng nhắc, nhưng sẽ che chở cho ta một đời chu toàn.

Hóa ra cái gọi là chu toàn ấy, chỉ có giá trị khi hắn còn muốn giữ lấy.

3.

Trấn Lâm Thủy ấm lên sớm hơn kinh thành.

Khi cành liễu bên sông vừa nhú mầm non, ta đưa Uyển Uyển đến ở trong tiểu viện phụ thân để lại. Sân không lớn, nhưng nơi góc tường lại có một cây quế già. Nhà bên là Tần thẩm bán cá, thấy ta dẫn con nhỏ chuyển đến, hôm sau đã xách một giỏ cá diếc sang.

“Mạnh nương t.ử, năm xưa phụ thân cô từng phát cháo ở trấn này, mọi người đều nhớ. Cứ yên tâm ở, thiếu thứ gì thì nói với ta.”

Ta nhận giỏ cá, mỉm cười cảm tạ bà.

Bà là người thẳng thắn sảng khoái, không hỏi vì sao ta một mình dẫn con gái, chỉ đến khi trông thấy tay ta nổi những bọng nước do chuyển hòm, liền quay đầu mắng con trai nhà mình lười biếng như cá chạch, gọi hắn đến sửa mái hiên dột.

Ta lập tức bận rộn hẳn lên.

Cửa hiệu phụ thân để lại vốn bán trà, nằm bên bến sông, mặt tiền hẹp nhưng phía sau lại nối với một gian bếp. Cửa hiệu nhiều năm không ai kinh doanh, ván gỗ đã mốc, biển hiệu cũng xiêu vẹo. Ta bán mấy món trang sức quý mang từ kinh thành đến, thuê người sửa sang lại nhà cửa, rồi lần lượt làm thử những món bánh bột hạt dẻ hấp đường quế, bánh thanh đoàn và bánh trứng muối mà mẫu thân từng dạy ta.

Mấy ngày đầu buôn bán chẳng mấy khấm khá. Người Lâm Thủy vốn đã quen ăn bánh gạo, thấy ta bán bánh bột hạt dẻ và bánh trứng muối, nhất thời chỉ chịu đứng quanh ngửi mùi thơm chứ chẳng chịu bỏ tiền mua. Chiều tối dọn hàng, ta bẻ những chiếc bánh còn thừa thành từng miếng, mang đến từng nhà cho mọi người nếm thử trước. Ngoài miệng Tần thẩm mắng ta phá của, quay đầu đã đem gánh cá nhà mình bày trước cửa, gặp ai cũng oang oang: “Mạnh nương t.ử mới đến làm bánh, ngọt mà không ngấy, mua một miếng lót dạ đi.”

Trước kia ở Cố gia, ta làm những thứ này, Cố lão phu nhân chê ta không đoan trang, nói phụ nhân thế gia không nên để đôi tay dính đầy bột mì.

Bây giờ ta xắn tay áo, bột mì phủ lên ch.óp mũi. Uyển Uyển nằm bò trên chiếc ghế nhỏ, nặn hình con thỏ, cười khanh khách. Hai tai thỏ con bé nặn một cao một thấp, ta vẫn cứ hấp cả vào xửng, đặt chúng ở ngay phía trước. Mấy đứa trẻ đi ngang trông thấy liền không chịu rời chân, quấn lấy mẫu thân đòi mua. Người lớn ăn thử bánh, hôm sau lại dẫn thêm bạn bè tới, cửa hiệu lúc này mới dần có khách quen.