Ta mặc hỉ phục bước qua cổng phủ tướng quân, nào ngờ người mình sắp gọi là nhà chồng đã không còn một ai sống sót.
Giữa từ đường tối lặng, những hàng bài vị xếp san sát khiến ta nhất thời chẳng biết phải nhìn vào đâu.
Quản gia thở dài, kể rằng từ người già đến con trẻ của Tạ gia đều đã c/h/ế/t nơi sa trường.
Ta vuốt phẳng vạt áo cưới đỏ thẫm, dè dặt hỏi ông: “Thế trong số những bài vị này, vị nào là phu quân của ta?”
Vừa hỏi xong, một tấm bài vị đột nhiên ngã xuống.
Cả từ đường lặng ngắt.
Ta nhìn tấm bài vị nằm chỏng chơ, lại quay sang quản gia: “Nó tự ngã xuống đấy ư?”
Quản gia luống cuống lấy tay lau trán khô rang, sau đó vội vàng dựng tấm bài vị kia lên.
Ông khép nép giải thích: “Hứa cô nương, người bái đường cùng cô là thiếu tướng quân của phủ ta, ngài ấy đã t/ử trận cách đây nửa tháng.”
Ta gật đầu, cố giữ cho vẻ mặt được bình thản: “Thì ra là thế.”
Quản gia chắp hai tay, ngập ngừng gọi: “Cô nương…”
Ta chỉ hỏi ông: “Có thể cho ta dâng mỗi người một nén hương không?”
Ông sững sờ giây lát rồi vội đáp: “Tất nhiên là được.”
Ta giao chiếc quạt hỉ cho ông giữ, châm hương từ ngọn nến, quỳ ngay ngắn trên bồ đoàn và thành tâm dập đầu ba lạy.
Sau đó, trước mỗi bài vị, ta đều kính cẩn cắm một nén hương.
Đến lúc đứng lên, ta mới phát hiện quản gia đã khóc đến nước mắt giàn giụa.
Ta ngạc nhiên hỏi: “Thúc sao vậy?”
Ông nghẹn ngào mãi mới nói thành lời: “Cô nương thật sự là một người tốt.”
Ta vỗ nhẹ lên tay ông, đưa sang chiếc khăn rồi bảo: “Từ nay thúc gọi ta là thiếu phu nhân là được.”
Thực ra, trước ngày xuất giá, ta đã nghe đủ thứ chuyện đáng sợ về phủ tướng quân.
Người ta đồn đêm nào trong phủ cũng có tiếng than khóc khiến dân quanh vùng mất ngủ.
Lại có kẻ quả quyết rằng một vị tướng quân vừa được báo t/ử ngoài tiền tuyến, mấy hôm sau đã trở về gõ cửa phủ giữa đêm khuya.
Những lời đồn cứ thế lan xa, khiến nhiều hộ dân quanh đây sợ hãi dọn đi nơi khác.
Còn ta, Hứa Phù Cừ, tự nhận mình vừa xinh đẹp vừa vĩ đại, lại chính là cô nương mang tiếng xui xẻo khắp kinh thành.
Phụ thân ta là Hứa Mặc, giữ chức ngự tiền thị vệ.
Hai năm trước, người từng định gả ta cho một vị tân khoa thám hoa.
Trong ba tháng đợi ngày thành hôn, vị thám hoa ấy liên tiếp bị giáng chức.
Phụ thân ngại chuyện hủy hôn sát ngày sẽ mất thể diện, đành nghiến răng đưa ta lên kiệu hoa.
Nào ngờ ngay đúng ngày đại hôn, người ta tra ra thám hoa lang dính líu đến tội mưu phản.
Cả nhà hắn bị lưu đày, còn những thân quyến trực hệ thì chịu án c/h/é/m đầu.
May mà hoàng thượng xét ta chỉ vừa bước chân vào cửa, chưa can dự việc gì, nên cho phép ta trở lại nhà mẹ đẻ.
Từ đó, chuyện nghị thân của ta trở thành nỗi khó xử lớn nhất kinh thành, chẳng một nhà nào dám đến hỏi cưới.
Ròng rã hai năm trôi qua, cuối cùng thánh thượng cũng đích thân ban hôn.
Chỉ một đạo chỉ dụ, ngài đã gả ta vào nhà một vị đại tướng quân.
Ta mừng đến nỗi suốt ba ngày chẳng ngủ được yên.
Thế nhưng ngày bước vào phủ, người ra đón lại chỉ có vị quản gia chân què rất hay khóc và Phồn cô cô, một bà v/ú mặt mày bình thản, gan dạ khác thường.
Được thôi, thuyền đến đầu cầu ắt sẽ thẳng.
Chẳng qua chỉ là một phủ tướng quân bị đồn có ma, lẽ nào ta lại sợ đến thế?
Đến khi màn đêm phủ xuống, khí phách ban ngày của ta bỗng chẳng biết chạy đi đâu mất.
Ta cuộn mình trong chăn, gọi vọng ra chỗ Phồn cô cô: “Cô cô, cô ngủ ngoài ấy một mình, có thấy sợ không?”
Ta vội đề nghị thêm: “Hay là vào ngủ với ta đi, hai người có bạn vẫn hơn mà.”
Giọng bà vẫn vững vàng như thường lệ: “Thiếu phu nhân cứ an giấc, nô tỳ ở ngoài hầu người.”
“Nhưng cô cô thật sự không sợ ư?”
“Nô tỳ chẳng có gì phải sợ.”
Nghe thế, ta lập tức ngồi bật dậy: “Cô cô lợi hại thật, hẳn trước đây đã trải qua không ít chuyện kinh người phải không?”
Bên ngoài không một tiếng đáp.
Ta đành lủi thủi chui lại vào chăn, vừa tủi thân vừa oán trách: “Sao các người cứ thích làm ngơ ta thế hả?”
Vật vã đến nửa đêm, ta mới thiếp đi được một lát.
Trong lúc mơ màng, bàn tay ta chợt chạm phải một l/ồ/ng n/g/ự/c rắn chắc.
Có người nắm lấy tay ta, thuận thế ôm ta vào lòng, miệng khe khẽ nhắc: “Đừng nghịch nữa.”
Ta mở choàng hai mắt, kinh hãi hét toáng lên: “Phồn cô cô, có ma!”
Sáng hôm sau, ta lê bước ra cửa với hai quầng mắt thâm đen.
Phồn cô cô nhìn ta từ trên xuống dưới, vẫn thản nhiên như không: “Thiếu phu nhân, kinh thành gần đây thịnh hành kiểu trang điểm này ư?”
Ta cười khan: “Cô cô đùa thế chẳng vui chút nào.”
Bà đáp tỉnh bơ: “Nô tỳ biết, vì nô tỳ vốn đâu có cười.”
Ta đã thật sự gặp ma, nào phải đang bịa chuyện để làm vui!
Ấy vậy mà ta kể với ai trong phủ, người ấy cũng nhìn ta bằng ánh mắt khó tả.
Tạ thúc, vị quản gia kia, thậm chí còn muốn đi mời đại phu đến bắt mạch cho ta.
Ta cuống quýt đuổi theo Phồn cô cô: “Không phải ta tưởng tượng đâu, là ma thật mà, cô cô đừng đi!”
Chẳng mấy chốc trời lại tối.
Phồn cô cô vẫn một mực từ chối vào phòng ngủ cùng ta.
Ta chỉ kịp vươn tay níu bà một cái không thành, đành rúc sâu vào chăn, để hở đôi mắt nhìn ngọn nến chập chờn trên bàn.
Càng ngắm bóng lửa lung lay, ta càng thấy sống lưng lạnh toát.
Ta vội chắp tay khấn lớn: “Ta là Hứa Phù Cừ, cả đời chưa làm việc gì hổ thẹn với lương tâm!”
“Vị thám hoa lang kia bị c/h/é/m đầu vì hắn vốn chẳng phải người t/ử tế, thật sự không liên quan gì đến ta!”
“Ta còn nhận thánh chỉ, hy sinh hạnh phúc cả đời để gả vào nhà đại tướng quân, chẳng lẽ như thế vẫn chưa đủ tốt sao?”