“Xin ngài đừng tìm đến ta nữa!”

Bỗng một đốm sáng hiện ngay trước mắt, khiến ta giật mình tung chăn.

Thì ra Tạ thúc cùng Phồn cô cô đang đứng trước giường, tay cầm đèn.

Ta lập tức ngồi ngay ngắn, giả vờ như vừa rồi chẳng xảy ra chuyện gì: “Tạ thúc, Phồn cô cô, hai người chưa nghỉ ư?”

Tạ thúc ân cần hỏi: “Thiếu phu nhân đang sợ sao?”

Ta xua tay thật mạnh: “Sợ ư, từ bé đến giờ ta còn chưa biết chữ sợ viết thế nào!”

Ông bảo lần đầu nhìn thấy ta trong từ đường, ta bình tĩnh đến mức ông cứ ngỡ ta chẳng kiêng dè chuyện quỷ thần.

Ta nhìn ông một cái, lại ngước nhìn trời, chỉ ước có thể giấu đôi chân đang co quắp vì ngượng của mình đi.

Tính ta vẫn thế, dù trong lòng sợ đến phát run, hễ trước mặt có người là phải giữ thể diện.

Thậm chí lúc ấy, ta còn có thể làm ra vẻ điềm nhiên như Quan Âm Bồ Tát.

Thấy ta im lặng, Tạ thúc bỗng đề nghị: “Lão nô đưa thiếu phu nhân đến xem một nơi nhé?”

Phủ tướng quân rộng hơn nhiều so với những gì ta hình dung.

Tuy chưa từng thong thả ngắm cảnh, nhưng ngay hôm đầu tiên, chỉ riêng đoạn đường được người dìu vào phủ đã đủ khiến ta nhận ra điều ấy.

Trong phủ có lầu giữa hồ, những hành lang dài mấy chục mét và từng vòm cây xanh tốt sum suê.

Nền đá và sàn gỗ đều được lau quét sạch sẽ, chứng tỏ gia nhân vẫn hết lòng gìn giữ nơi này.

Trên cột hành lang cùng nhiều ghế lớn nhỏ có khắc bốn chữ “Gia Quốc Vĩnh An”.

Dẫu chủ nhân không còn, ta vẫn có thể hình dung nơi đây từng là một đại gia đình đầm ấm đến nhường nào.

Ta khoác áo choàng, đi theo Tạ thúc qua từ đường, vòng khỏi hoa sảnh, rồi dừng trước một cánh cửa lớn.

“Thiếu phu nhân, mời người vào.”

Hai người nhìn ta ra hiệu, Phồn cô cô đem đèn l/ồ/ng trao vào tay ta.

Ta một mình bước qua ngưỡng cửa, rồi sững sờ trước cảnh tượng bên trong.

Về sau, dù từng được vào cung, ta vẫn thấy khó có nơi nào sánh được với gian phòng ấy.

Đó vốn là một kho binh khí rộng lớn, song chẳng còn món v/ũ k/h/í nào nguyên vẹn.

Kiếm đã gãy, đao đã mẻ, những cánh cung không còn dây được treo trang trọng trên tường.

Giữa chúng còn có áo giáp thấm vết m/á/u cũ, yên ngựa chằng chịt vết c/h/é/m, những dải lụa sờn rách và cả trâm cài hoa đã vỡ.

Mỗi món di vật đều có vị trí riêng, được sắp đặt vô cùng cẩn thận.

Trong những kẽ đá xanh, cỏ dại len lên và trổ ra mấy bông hoa trắng bé nhỏ.

Từng món đồ đã không còn dùng được, vậy mà cả gian phòng lại đẹp đến đau lòng, như ghi giữ khí phách của những người không thể trở về.

“Những thứ này là…” ta khẽ hỏi.

Tạ thúc đáp: “Đây là nơi các vị tướng quân trở về yên nghỉ.”

Nhà họ Tạ đời đời trung liệt, bất kể nam hay nữ, hễ đủ sức đều có thể cưỡi ngựa khoác giáp, cầm binh khí xông pha trận mạc.

Khi một người mãi mãi không trở lại, gia đình sẽ đem món đồ cuối cùng còn sót của họ về lưu giữ tại đây, để đời sau có nơi tưởng nhớ.

Thế nhưng cỏ đã mọc lan qua kẽ đá, bụi cũ phủ lặng lẽ ở những góc khuất, đủ biết căn phòng này đã lâu không có người bước vào.

Tạ thúc lại rơi nước mắt, còn Phồn cô cô chẳng nói gì, chỉ lặng lẽ đưa ông chiếc khăn.

Lau mặt xong, ông nghẹn ngào: “Thiếu tướng quân ra đi, đến một món di vật cũng chẳng mang về được.”

Ta không biết phải an ủi thế nào, chỉ gật đầu rồi nhẹ tay khép cửa.

Ta đã hiểu vì sao Tạ thúc dẫn mình đến đây.

Theo cách ta hiểu, ông muốn nói rằng trung hồn Tạ gia vẫn trấn giữ nơi này, ma quỷ có thể ở bất cứ đâu, nhưng không nên sợ chúng tại gian phòng ấy.

Trên đường trở về, ta gặp không ít phụ nhân lớn tuổi, những cô nương trẻ cùng cả đám trẻ con.

Thấy phủ đã không còn chủ nhân, ta không khỏi thắc mắc vì sao vẫn giữ đông người đến vậy.

Ta bèn hỏi: “Tạ thúc, sao phủ mình còn nhiều gia nhân thế?”

Ông cúi đầu thưa rằng phần lớn những người ấy là thê t/ử, con cái của các tướng sĩ đã hy sinh, không nơi nương tựa nên được lưu lại trong phủ.

Nghe xong, lòng ta nặng trĩu.

Trở về phòng, nỗi kinh hãi ma quỷ mấy đêm trước bỗng nhiên tan đi đâu mất.

Ta ôm chiếc gối, nhìn mái nhà mà buồn bã tự hỏi: “Vì sao người tốt lại chẳng được sống lâu?”

Ngày ta về thăm nhà mẹ đẻ, Tạ thúc chất đầy quà cáp lên ba xe ngựa để mang theo.

Nhưng chuyện khiến ta sửng sốt hơn cả là hoàng thượng lại đang ngồi trong nhà phụ thân.

Bệ hạ ngồi trên chỗ của phụ thân, khiến chiếc ghế gỗ tầm thường trong ngôi nhà nhỏ trông chẳng khác nào long ỷ.

Ta vội quỳ sụp xuống, dập đầu hành lễ: “Thảo dân khấu kiến hoàng thượng, ngô hoàng vạn tuế, vạn vạn tuế.”

Bệ hạ trông chừng ba mươi tuổi, dung mạo lạnh lùng.

Ngài nhận chén trà giản dị từ tay phụ thân ta, nhấp một ngụm rồi hỏi: “Ngươi chính là Hứa Phù Cừ?”

“Khởi bẩm bệ hạ, đúng là thảo dân.”

Trong lúc cúi đầu, ta nghe tiếng ngón tay ngài gõ nhẹ xuống bàn cùng một tiếng tặc lưỡi thiếu kiên nhẫn.

Ta hoàn toàn chẳng hiểu mình bị gọi đến đây để làm gì.

Mãi đến khi ngài cho đứng dậy, ta mới thở phào, còn phụ thân lập tức bước tới đỡ ta.

Ông khom người nói: “Bệ hạ, tiểu nữ tuổi còn nhỏ, chỉ e không gánh nổi trọng trách này, xin để thần đi thay.”

Hoàng thượng nhìn ông: “Hứa Mặc, khanh hầu cận trẫm đã bao năm, còn không biết phủ tướng quân kín kẽ như thùng sắt, người trong phủ ai nấy đều biết võ công hay sao?”

“Hay khanh lại muốn bị thương như nửa tháng trước?”

Phụ thân chỉ biết cúi đầu, còn ta nghe đến đây thì thấp thoáng hiểu ra.

Hoàng thượng cuối cùng cũng hướng mắt về phía ta: “Hứa Phù Cừ, trẫm có một việc giao cho ngươi.”

“Nếu làm nên, trẫm bảo đảm Hứa gia đời này hưởng vinh hoa phú quý.”