Ta dè dặt hỏi: “Vậy nếu thảo dân làm không xong thì sao?”
Ngài lạnh giọng đáp: “Cả nhà ngươi sẽ bị xử trảm!”
Hai chân ta run b/ắ/n, chỉ còn biết lắp bắp: “Xin bệ hạ cho biết… là việc gì?”
“Chuyện của Tạ gia có quá nhiều điều khuất tất, ngươi phải điều tra xem họ thật sự t/ử trận, hay chỉ giả c/h/ế/t.”
Ta sửng sốt đến mức buột miệng: “Làm sao họ có thể giả c/h/ế/t được chứ?”
Ánh mắt bệ hạ lập tức sắc lại: “Ngươi biết điều gì?”
Ta sợ quá, vội quỳ xuống dập đầu: “Thảo dân tuy mới đến Tạ phủ chưa lâu, nhưng có thể quả quyết cả nhà họ Tạ luôn hết lòng trung thành với bệ hạ!”
Ngài không chấp nhận lời bảo đảm suông ấy, chỉ ra lệnh ta phải đem chứng cứ về rồi hãy nói.
Đến lúc ngồi lên xe trở lại phủ, hồn vía ta mới dần trở về.
Chẳng lẽ bệ hạ cho rằng Tạ gia giả c/h/ế/t để câu kết với địch?
Hay ngài nghi họ cố tình trốn tránh binh đao?
Nghĩ theo cách nào ta cũng không tài nào hiểu được.
Qua những ngày sống tại Tạ phủ, ta tin cả hai điều ấy đều không thể xảy ra.
Ta vén rèm nhìn Tạ thúc cùng Phồn cô cô theo bên xe, thấy hai người vẫn bình thản, chẳng hay biết mình vừa bị cuốn vào chuyện gì.
Lòng ta chua xót vô cùng.
Người nhà họ Tạ vì nước vì dân mà nằm xuống, vậy mà đến khi đã c/h/ế/t vẫn bị người khác đặt điều, phủ đệ cũng thành nơi bị đồn đại ma quái.
Những gia nhân ở lại ngày ngày chăm nom Tạ phủ, giữ lấy chút dấu tích của những người thân đã ra đi.
Nghĩ đến đó, ta càng thấy không đành lòng.
Sau một đêm trằn trọc, cuối cùng ta cũng nghĩ ra cách điều tra.
Trước tiên, ta sẽ lấy cớ sửa sang phủ đệ để nắm rõ địa thế từng nơi, rồi nhân lúc đêm khuya âm thầm tìm kiếm.
Tuyệt đối không thể để Tạ thúc và mọi người biết chuyện, bằng không chẳng khác nào phụ tấm lòng của họ.
Ta vốn nghĩ việc xem bản đồ phủ sẽ gặp nhiều khó khăn, nào ngờ hôm sau Tạ thúc tự tay mang cả bản vẽ đến.
Ta đóng kín cửa, lấy giấy b/út ra giả bộ suy tính việc sửa phủ, kỳ thực chỉ ngồi vẽ loằng ngoằng trước tấm bản đồ.
Tạ phủ lớn thế này, nếu đi lục từng gian phòng thì biết bao giờ mới hết?
Cuối cùng, ta quyết định chọn vài nơi có vẻ khả nghi nhất.
Đầu tiên là tấm biển trong chính sảnh, nghe nói được người đi trước của Tạ gia viết từ mấy chục năm trước.
Kế đến là thư phòng, nơi thường cất giữ giấy tờ quan trọng.
Từ đường cũng không thể bỏ qua, bởi nếu có vật nào liên quan đến tổ tiên, Tạ thúc rất có thể sẽ đem cất ở đấy.
Cuối cùng là phòng riêng của ông, biết đâu những thứ hệ trọng nhất lại được ông giữ ngay bên mình.
Đợi trời tối hẳn, ta cầm bản đồ rồi rón rén ra khỏi phòng.
Vừa qua dãy hành lang, ta đã bắt gặp một bóng người đang ngồi trong hoa sảnh.
Dưới ánh đèn mờ, một thiếu niên cúi đầu chăm chú viết chữ, bóng cây bên ngoài lay động trên vai áo chàng.
Ta định lặng lẽ rẽ sang lối khác, nào ngờ chân lại giẫm trúng cành cây khô.
Thật kỳ lạ, gia nhân quét dọn hằng ngày, sao giữa lối đi lại còn cành khô rơi vãi?
Thiếu niên ấy nghe tiếng cành cây gãy liền ngoảnh lại.
Không kịp tránh, ta đành giấu tấm bản đồ sau lưng, bình thản đến gần hỏi: “Ngươi đang viết gì vậy?”
Chàng gác b/út, chắp tay thi lễ: “Kính chúc phu nhân vạn an.”
Ta đưa mắt nhìn trang giấy trước mặt chàng.
Trên ấy là bốn câu thơ:
“Chiều hôm quạ khoang một mảnh sầu,
Ao liễu xanh non lại nhuốm màu.
Nếu hay dưới mắt không ly hận,
Há tin nhân gian có bạc đầu.”
Ta bỗng thấy mình làm phiền người ta nên áy náy nói: “Xin lỗi, ta không cố ý quấy rầy.”
Thiếu niên mỉm cười, nói chẳng có gì đáng ngại, rồi hỏi vì sao thiếu phu nhân lại ra ngoài lúc đêm muộn.
Ta cười gượng: “Ta chỉ tùy tiện đi dạo thôi.”
Chàng đứng dậy, bước về phía ta, dung mạo tuấn tú với đôi mắt phượng sáng như chứa cả trời sao.
“Nếu không bận gì, phu nhân có muốn cùng tại hạ dạo một vòng không?”
Ta lùi về sau nửa bước, miệng vẫn cười: “Ấy, ta lại có việc mất rồi.”
Nghĩ một lát, ta bèn tìm cớ: “Thực ra ta buồn ngủ lắm, phải về nghỉ ngay đây.”
Giọng chàng thoáng buồn: “Vậy phu nhân về nghỉ sớm đi.”
Ta lập tức chạy khỏi hoa sảnh như có người đuổi theo.
Đến tận góc hành lang, ta mới dám đứng lại thở hổn hển.
Một tay vỗ n/g/ự/c cho tim bớt đập, tay kia móc bản đồ trong áo, ta vừa quay người thì đụng ngay hai kẻ bịt mặt mặc đồ đen.
Ta và hai gã áo đen trừng mắt nhìn nhau trong chớp mắt.
Ngay sau đó, cả ba cùng há miệng hét thất thanh.
Ta ngã phịch xuống đất, còn hai người nọ lại hoảng hốt bỏ chạy mất dạng.
Ta lồm cồm đứng dậy, tức tối hét theo: “Này, ta còn chưa chạy, các ngươi chạy cái gì?”
Đến khi chúng chạy khuất, ta cúi xuống mới hay tấm bản đồ cũng đã đ/á/n/h rơi lúc nào không biết.
Ta vừa tức vừa sợ, kêu lên: “Trời ơi, hai tên trộm kia!”
Không còn cách nào khác, ta đành lần theo trí nhớ tìm đến chính sảnh.
Lần đầu bước vào nơi này, ta thấy ngay trên cao treo tấm biển đề bốn chữ “Tinh Trung Báo Quốc”, nét b/út cứng cỏi như muốn xuyên qua gỗ.
Tấm biển ấy chính là ngự b/út tiên đế ban tặng, một vinh dự lớn lao của cả nhà họ Tạ.
Ta soi đèn qua các bộ bàn ghế sơn son chạm trổ, rồi đặt đèn xuống, kê ghế để trèo lên nhìn phía sau tấm biển.
Ta không nhịn được mà xuýt xoa trước tấm biển được gìn giữ cẩn thận đến vậy.
Ngay cả mặt sau tấm biển cũng sạch sẽ, chẳng hề bám bụi, đủ biết gia nhân quý trọng vật này đến đâu.
Nhưng nhìn kỹ một hồi, ta lại phát hiện có thứ gì đó nằm nép bên trong.