Ta khựng lại, quay vào lấy chổi.

Tiếng bước chân của dì họ vọng tới từ phía sau. Có lẽ dì đến kiểm hàng cuối tháng.

Dì bước lên bậc thềm, ánh mắt vừa quét qua liền giật b.ắ.n người, ngả ra sau, vỗ n.g.ự.c lùi liền hai bước:

“Ôi chao, cái thứ trời đ.á.n.h nào đem đồ xui xẻo tới trước cửa lão nương thế này! A Niệm, mau quét đi, sáng sớm đã gặp thứ đen đủi, xúi quẩy c.h.ế.t mất!”

Ta vội quét con chuột vào hốt rác, đem đổ ở đống rác đầu ngõ.

Dì họ mắng xong liền vào trong quầy lật sổ sách.

Ta biết dì không hề mượn chuyện để c.h.ử.i xéo ta.

Tính dì vốn là vậy.

Trong lòng có lửa thì phải phun hết ra khỏi cổ họng, miệng nhanh hơn đầu óc, lửa cháy qua rồi cũng quên.

Nhưng trong lòng ta vẫn thấp thỏm bất an.

11

Mấy ngày tiếp theo, trước cửa tiệm ngày nào cũng xuất hiện thứ gì đó.

Mỗi ngày ta đều tranh thủ quét sạch bậc đá trước khi dì họ tới.

Thỉnh thoảng dì lẩm bẩm một câu:

“Sao dạo này lắm côn trùng c.h.ế.t thế?”

Ta chỉ ậm ừ đáp:

“Trời lạnh rồi.”

Sau đó lập tức chuyển sang chuyện khác.

Nhưng việc buôn bán trong tiệm mỗi ngày một vắng.

Khách quen không tới nữa, ngay cả những nhà ở gần có thiếu tương thiếu giấm cũng chịu đi vòng tới tận cuối phố mua.

Dì họ gảy bàn tính, đôi mày càng lúc càng nhíu c.h.ặ.t.

Buổi chiều, dì thay y phục rồi ra ngoài.

Lúc trở về, sắc mặt dì không tốt, ngồi xuống ghế, im lặng hồi lâu.

Ta đang ngồi xổm trước kệ hàng sắp xếp mấy gói kim chỉ.

Giọng dì từ phía sau truyền tới:

“A Niệm, con lại đây.”

Ta đi tới.

Dì lấy từ hòm tiền ra một xâu tiền, đặt lên mặt quầy.

“Dì chỉ trông vào cửa tiệm này để dưỡng già...”

“Bên ngoài đồn chuyện tà môn lắm, dì cũng sợ. Dì không thể giữ con ở đây phụ việc nữa.”

Ta cầm xâu tiền ấy lên, khom người:

“Không sao đâu dì. Những ngày qua đã làm phiền dì rồi.”

Ta trở về hậu viện thu dọn hành lý, tất cả chỉ gói gọn trong một bọc nhỏ.

Xách hành lý ra cửa, vừa bước qua ngưỡng, phía sau đã truyền tới giọng do dự của dì họ:

“A Niệm, thật ra dì biết một việc, chỉ sợ con không dám làm.”

“Việc gì?”

“Nhị công t.ử nhà Thẩm viên ngoại mắc một chứng bệnh quái lạ. Người bình thường chỉ cần tới gần là toàn thân nổi mẩn. Đã có không ít người nhận việc, chưa được nửa ngày đã chạy mất.”

Dì họ nhấc mí mắt lên:

“Tà môn thì đúng là tà môn, nhưng bạc trả rất nhiều, một tháng ba mươi lượng.”

Ta sững người.

Một tháng ba mươi lượng?

Đủ để may cho nương mấy bộ y phục mới, đủ để Tưởng Tưởng mùa hè mặc sa, mùa đông mặc bông.

“Dì họ, nhà họ ở phố nào?”

Ta đến Thẩm phủ. Hộ vệ nghe nói ta tới ứng tuyển, ánh mắt lập tức trở nên kỳ quái, vội vàng đi tìm quản gia.

Một người đàn ông trung niên mặc trường sam xanh xám bước ra, từ trên xuống dưới đ.á.n.h giá ta.

“Biết mình tới làm việc gì không?”

Ta gật đầu.

Sợ ta không biết chữ, hắn lấy khế thư ra, đọc từng chữ một cho ta nghe.

“Thử việc chưa đầy nửa ngày đã bỏ chạy thì không có tiền công. Ai ở lại được, mỗi tháng ba mươi lượng.”

Ta không nói hai lời, lập tức ấn dấu tay đỏ.

Quản gia cất khế thư, sai người thắng xe ngựa đưa ta đi.

Xe ra khỏi thành, rẽ vào một con đường hẹp. Càng đi sâu, cây cỏ càng thưa thớt, ngay cả trong kẽ đá cũng hiếm thấy rễ cỏ.

Đến biệt uyển, bốn phía gần như không một ngọn cỏ.

Quản gia đứng từ xa, cách ba năm trượng, hướng vào trong viện hét lớn:

“Công t.ử, lão nô đưa người tới cho ngài rồi!”

Lời còn chưa dứt, người đã quay đầu chạy mất, tốc độ nhanh gấp đôi lúc tới.

Ta xách bọc hành lý bước qua nguyệt động môn.

Sân viện trống không, không hoa không cây, chỉ có một bàn đá và hai chiếc ghế đá.

Cửa dưới hành lang khép hờ, bên trong im phăng phắc.

Ta hắng giọng:

“Công t.ử, ta tên Hứa Niệm, là người mới tới.”

Không ai đáp.

Gió cuốn bụi mịn lên rồi lại thả xuống.

Ta đứng thêm một lúc, bên trong vẫn chẳng có động tĩnh.

Ta dứt khoát tới góc tường tránh gió, lấy bọc hành lý lót xuống rồi ngồi. Hơi lạnh từ gạch tường thấm vào lưng.

Nhưng ta thật sự quá mệt, ôm đầu gối nhắm mắt lại.

Không biết qua bao lâu, một luồng lạnh chợt khiến ta tỉnh giấc.

Trời đã tối quá nửa. Bên cạnh bàn đá chẳng biết từ khi nào đã có thêm một người.

Bạch y, tóc đen, thân hình thanh gầy, tựa một nhành trúc ngâm trong ánh trăng.

Hắn ngồi nghiêng về phía ta, giữa những ngón tay chậm rãi xoay một chén trà rỗng.

Ta ngẩn ra, sau đó giật mình bật dậy, đứng thẳng người:

“Công t.ử.”

Hắn nghiêng đầu nhìn sang.

Trong ánh chiều chạng vạng, đường nét mày mắt dần hiện rõ.

Cả người hắn tựa một bức họa đã lược bỏ quá nửa nét mực, chỉ giữ lại vài đường quan trọng nhất.

Ấy vậy mà những đường nét ấy ghép lại một chỗ, lại đẹp đến mức khiến người ta khó lòng dời mắt.

“Quản gia đưa ngươi tới chăm sóc ta, còn ngươi thì hay rồi, ban ngày trốn việc lười biếng hơn nửa ngày, ngủ đến mức nước miếng chảy ròng.”

Ta ho khan một tiếng:

“Công t.ử đói chưa? Ta đi làm chút đồ ăn cho ngài?”

“Nhà bếp ở cuối hành lang, rẽ trái, gian thứ hai... Nhưng ta khuyên ngươi một câu, người trước tới chăm sóc ta cũng đã nhiễm bệnh.”

“Không sao.” Ta nói. “Có lẽ ta sẽ là ngoại lệ.”

12

Quả thật ta không hề bị ảnh hưởng.

Thậm chí có thể nói, trên đời này ta chính là người thích hợp nhất để chăm sóc Thẩm Phương Tự.

Ta ở lại biệt uyển.

Tính tình hắn không xấu, thậm chí còn tốt đến lạ.

Không hề có vẻ kiêu ngạo của công t.ử nhà giàu. Ngoại trừ ngày đầu tiên trêu chọc ta vài câu, sau đó hắn vẫn luôn đối đãi với ta như người bình thường.

Những lúc rảnh rỗi, ta lại nhớ tới vài mảnh ký ức khi trước.

Lúc cốc chủ không phát điên, hắn cũng đối xử với ta rất tốt.

Hắn từng dạy ta biết chữ, còn sai tú nương dạy ta nữ công.

Ta thêu lệch mũi kim, tú nương cau mày bắt làm lại.

Cốc chủ đứng bên cạnh, nghiêm túc nói:

“Luyện cho t.ử tế.”

Có một lần hắn uống rượu, nghiêng đầu nhìn ta:

“Tiểu Tang, hắn sẽ thích ngươi sao?”

13

Ở bên nhau lâu ngày, ta mới phát hiện Thẩm Phương Tự vốn không lạnh nhạt, có lẽ chỉ vì đã cô độc quá lâu.

Hắn đưa cho ta một cuốn sách:

“Cuốn thoại bản này ngọt lắm, bản thiếu gia đã đích thân thưởng thức rồi.”

Hắn sẽ đẩy những hạt sen đã bóc sẵn tới trước mặt ta.

Hắn không có tính khí thiếu gia, chẳng sai bảo người khác, ăn uống không kén, y phục không chọn, ngay cả mấy chậu hoa lụa giả đến mức không thể giả hơn mà ta làm đặt dưới hành lang, hắn cũng chưa từng phàn nàn.

Một sáng nọ, ta ngửi thấy mùi cháo gạo thơm lừng.

Đẩy cửa nhà bếp ra, ta thấy hắn khoác áo đứng trước bếp lò, bóng nghiêng được ánh lửa hắt lên ấm áp.

Nghe tiếng động, hắn quay đầu, lười biếng liếc ta một cái:

“Tỉnh rồi à? Người không biết còn tưởng ngươi mới là chủ t.ử của ta.”

Ta bỗng bật cười.

Ngay cả bản thân cũng không nhận ra, khóe môi đã tự cong lên.