Hai bóng người quen thuộc đang leo lên cầu đá.
Ta nhận ra mình chưa c.h.ế.t, hiện nằm ở phía bên kia cầu.
Phía ta là những người dân chưa kịp rút hết.
Phía bên kia là Thôi Hạc Tiên cùng đám t.ử sĩ Bắc Địch đang truy đuổi.
Muốn ngăn ngòi nổ lan đến kho t.h.u.ố.c, chỉ có thể hạ hai cánh cửa chắn ở hai đầu.
Nhưng người hạ cửa sẽ không còn đường trở lại.
Thôi Hạc Tiên quay đầu nhìn ta.
Chàng cười rồi đặt vào tay ta tờ hòa ly đã có đủ chữ ký và dấu tay.
Chàng gọi ta bằng giọng dịu dàng của những năm chúng ta còn nhỏ.
“A Âm.”
“Đây là lần đầu tiên từ khi trở về kinh thành, ta trao cho nàng thứ nàng thực sự cần.”
Trái tim ta run lên.
Nhưng chàng đã đẩy ta lui lại, quay người chạy về cửa chắn bên trái.
Tiểu Thôi cũng lao sang phía còn lại.
Ta nắm được tay áo thiếu niên.
“Ngươi quay về.”
Đó là lần đầu tiên kể từ khi gặp lại, ta chủ động giữ hắn.
Đôi mắt hắn lập tức đỏ lên.
Có lẽ hắn đã đợi hành động ấy rất lâu.
Nhưng khi thật sự có được, hắn chỉ cúi xuống, nhẹ nhàng gỡ từng ngón tay ta ra.
“A Âm.”
“Nàng nhìn cho rõ.”
Thiếu niên mỉm cười, nụ cười sáng và tự do như ngày trước.
“Ta không trở thành hắn.”
Ánh đao lóe lên trên cầu.
Hai người đứng cách nhau giữa lửa lớn.
Mấy canh giờ trước, họ còn muốn g.i.ế.c đối phương.
Giờ đây, mỗi người lại nắm lấy một sợi dây kéo cửa chắn.
Thôi Hạc Tiên bật cười, nước mắt thấp thoáng trong mắt.
“Ta thật sự hối hận.”
Tiểu Thôi lạnh lùng đáp:
“Nàng sẽ không tha thứ cho ngươi.”
“Ta cũng không.”
Trong lúc họ nói, lửa đã cháy đến giữa cầu.
Hai thanh kiếm đồng thời c.h.é.m xuống.
Dây kéo đứt.
Hai cánh cửa chắn nặng nề rơi xuống.
Cây cầu cũng bắt đầu sụp.
Trong giây phút cuối, Thôi Hạc Tiên nhìn ta giữa trời lửa.
Chàng chỉ kịp hét:
“Xin lỗi.”
Còn thiếu niên rơi xuống cùng chàng vẫn mỉm cười.
Trong mắt hắn là ánh sáng của người từng cưỡi ngựa xuyên qua phố dài, rồi quay đầu đợi ta.
Hắn nói:
“A Âm, hãy đi tiếp.”
“Đừng sống mãi trong chuyện đã qua.”
Sau đó, ngọn lửa nuốt lấy cả hai.
Đám cháy kéo dài suốt đêm.
Toàn bộ gian tế Bắc Địch đều bị tiêu diệt.
Ngõ quân hộ được giữ lại.
Nhưng Thôi Hạc Tiên không trở về.
Trẻ con trong ngõ tìm kiếm nhiều ngày, cuối cùng chỉ vớt được hai thanh nhuyễn kiếm giống hệt nhau bên bờ sông.
Ta chôn chúng cạnh nhau.
Ngày hạ táng, ta ngồi trước mộ từ sáng đến tối.
Ta nhớ đêm tân hôn.
Nhớ bóng lưng trên thành lâu.
Nhớ thiếu niên trong Nam Phong quán từng ngồi trước mặt, vụng về dỗ ta nín khóc.
Thì ra một đời người có thể chứa nhiều năm tháng đến thế.
Mà cũng có thể kết thúc chỉ trong một khoảnh khắc.
Bia mộ do ta tự khắc.
Công công và bà mẫu đều đã qua đời.
Ta với Thôi Hạc Tiên cũng không có con.
Người c.h.ế.t bất đắc kỳ t.ử không thể vào phần mộ tổ tiên, bởi vậy ta chỉ khắc tên chàng, rồi chôn trên bãi đất hoang gần cầu đá.
Nơi ấy phía xa có núi, bên cạnh có nước.
Cũng xem như yên tĩnh.
Liễu Chức Vụ từng đến một lần.
Hôm ấy ta vừa đến tảo mộ.
Nàng ta đứng trước bia rất lâu.
Trước khi rời đi, nàng ta hỏi:
“Ngươi có hận ta không?”
Ta đáp ngay:
“Đã từng.”
Sau một lúc, ta nói thêm:
“Nhưng đến hôm nay, ta không muốn giữ nữa.”
“Ta không thể nuôi mãi một con rắn độc trong lòng.”
“Nếu cứ hận ngươi, người bị giày vò vẫn chỉ là ta.”
“Buông bỏ ngươi cũng là buông tha cho chính mình.”
Ta nhìn gương mặt tiều tụy ấy.
“Những năm qua ngươi cũng chẳng hề vui vẻ, đúng không?”
“Nếu từ đầu ngươi sống ngay thẳng hơn, có lẽ mọi chuyện đã không đi đến kết cục này.”
Liễu Chức Vụ che mặt, quỳ xuống trước mộ.
Nàng ta ôm lấy tấm bia, khóc không thành tiếng.
Ta không ở lại.
Ta quay người rời đi.
Những năm sau đó, thiên tai vẫn liên tiếp xảy đến.
Ta mở thêm xưởng dệt ở miền Bắc, xây y xá, dựng nữ học.
Gia quyến binh sĩ có việc làm.
Lưu dân có thể đổi sức lao động lấy lương thực.
Những nữ t.ử không nơi nương tựa có thể học nghề, tự lập hộ tịch, tự nuôi sống bản thân.
Có người nói ta làm những việc ấy để tích phúc cho Thôi tướng quân.
Ta nghe mà thấy buồn cười.
Khi chàng còn sống, mọi việc ta làm đều bị xem là chuyện lặt vặt của nội trạch.
Vì sao đến khi chàng c.h.ế.t, tất cả lại trở thành công đức của chàng?
Việc cứu tế của triều đình không hiệu quả.
Ta mang sổ sách cùng vạn dân thư đến quỳ trước cửa cung.
Thánh thượng triệu ta vào điện, hỏi ta mong muốn ban thưởng điều gì.
Ta ngẩng đầu, bình tĩnh đáp:
“Thần phụ không muốn nhờ công lao của phu quân để được ban phong.”
“Thần phụ chỉ xin triều đình căn cứ vào công lao cứu dân, an định bách tính của chính thần phụ, ban cho thần phụ một phong hiệu thuộc về bản thân.”
Trong điện lập tức xôn xao.
Một vị ngự sử bước ra quát:
“Cáo mệnh từ xưa đều nhờ phu quân hoặc con trai mà có.”
“Làm gì có đạo lý nữ nhân tự xin phong?”
Ta đặt trước điện danh sách xưởng dệt, sổ nghĩa thương và hồ sơ cứu chữa của y xá.
“Thần phụ không còn phu quân để dựa.”
“Cũng chẳng có con trai để nương nhờ.”
“Thần phụ an trí gia quyến quân sĩ, cứu dân qua thiên tai, sửa đê, xây kho, tất cả đều dùng tiền bạc và sức lực của mình.”
“Nếu bấy nhiêu vẫn chưa đủ, thần phụ có thể làm thêm.”
“Nhưng nếu chỉ vì là nữ t.ử mà vĩnh viễn không thể nhận được danh phận thuộc về chính mình…”
Ta ngừng lại.
“Vậy quy củ ấy nên được thay đổi.”
Đại điện yên lặng rất lâu.
Cuối cùng, thánh thượng vỗ tay cười lớn.
“Chuẩn.”
Về sau, ta đứng trước nghĩa thương mới hoàn thành.
Trên phố, gia quyến binh sĩ cầm tiền công trở về.
Lưu dân nâng bát cháo nóng.
Những cô nương trong nữ học ôm sách, cười nói chạy ngang qua ta.
Ta bỗng nhớ đến nhiều năm trước, Thôi Hạc Tiên từng ôm ta, hứa sẽ dùng chiến công đổi cho ta một đạo cáo mệnh.
Chàng không thể thực hiện.
Mà ta cũng không còn chờ mong nữa.
Gió từ phương Bắc thổi về.
Trong tiếng gió, ta dường như lại nghe giọng thiếu niên giữa trời lửa năm ấy.
“A Âm, hãy bước tiếp.”
Khóe mắt ta nóng lên.
Nhưng ta không quay đầu.
Ta tiếp tục đi trên con đường do chính mình mở ra, tự tay nhận lấy thánh chỉ, rồi bình thản nhìn khắp nhân gian.
Ta không cần mượn họ của phu quân để được người đời nhớ đến.
Cũng không cần sống như chiếc bóng dựa vào bất kỳ ai.
Kể từ hôm nay, tên của ta sẽ tự mình lưu lại.
Cùng ánh đèn của muôn nhà, sáng mãi giữa cõi nhân gian.
HẾT.