“Vãn Vãn, con điên rồi sao? Con là một nữ nhi, đến nơi ấy làm gì? Đó là chiến trường! Sẽ c.h.ế.t đấy!”
“Nương, con từng c.h.ế.t trên chiến trường một lần rồi.”
Mẫu thân sững sờ, tưởng ta đang nói mê sảng.
Ta không giải thích, chỉ quỳ xuống trước mặt người, dập đầu ba cái.
Mẫu thân ôm ta khóc suốt một đêm.
Sáng hôm sau, mắt người đỏ hoe, đưa cho ta một bọc hành lý. Bên trong là mấy bộ y phục mùa đông cùng hai trăm lượng bạc.
“Chuyện phụ thân con, nương sẽ nói.” Người vuốt ve gương mặt ta, “Vãn Vãn của nương đã trưởng thành rồi. Nương không ngăn được con nữa.”
Mũi ta cay lên, suýt nữa rơi nước mắt.
Rất lâu trước kia, khi ta ra chiến trường, chẳng có ai tiễn ta.
Kiếp này, ta có rồi.
Ngày lên đường, trời còn chưa sáng.
Xuân Thảo nhất quyết muốn đi theo, nhưng ta không đồng ý. Nàng mới mười ba tuổi, ta không thể đưa nàng vào chốn lửa đạn.
Nàng khóc quỳ dưới đất cầu xin ta, nhưng ta không ngoảnh đầu lại.
Lão quân y Trần chờ ta ở cửa thành, đ.á.n.h một chiếc xe la cũ kỹ, trên xe chất đầy d.ư.ợ.c liệu.
Xe la ra khỏi cửa thành, men theo quan đạo đi về phía Bắc.
Ta từng nghĩ ông trời cho ta sống lại một lần là để ta hưởng phúc.
Nhưng vào khoảnh khắc Cố Cảnh Đình quỳ trước đại đường Thẩm phủ và nói câu ấy, ta bỗng hiểu ra.
Có những người, dù sống bao nhiêu kiếp, vẫn không thể làm ngơ trước hai chữ sơn hà tan nát.
Xe la đi ba ngày, ra khỏi kinh kỳ.
Trên đường bắt đầu xuất hiện những người dân chạy nạn.
Có người dắt díu cả nhà, sắc mặt vàng vọt, gầy gò; có người đẩy xe một bánh, có người cõng hài t.ử trên lưng, có người đi khập khiễng, đến giày cũng chẳng có.
Một tiểu cô nương ngồi xổm bên đường khóc. Bên cạnh nàng là một phụ nhân đang nằm đó, sắc mặt vàng như nến, môi tím tái, vừa nhìn đã biết bệnh rất nặng.
Ta bảo Trần sư phụ dừng xe rồi nhảy xuống.
“Để ta xem.”
Tiểu cô nương giật mình, lùi về sau. Ta ngồi xổm xuống, lật mí mắt của phụ nhân, rồi bắt mạch.
Là kiết lỵ. Đã kéo dài mấy ngày, nếu cứ tiếp tục như vậy, tính mạng khó giữ.
Ta lấy t.h.u.ố.c từ trên xe xuống, cho phụ nhân uống, rồi để lại cho tiểu cô nương mấy miếng lương khô.
Lúc rời đi, tiểu cô nương quỳ dưới đất dập đầu.
Ta kéo nàng đứng dậy, không nói gì, chỉ lên xe tiếp tục lên đường.
Trần sư phụ hồi lâu không lên tiếng, cuối cùng mới thốt ra một câu:
“Con đúng là có lòng thiện.”
“Không phải lòng thiện.”
Ta nói: “Chỉ là không thể trơ mắt nhìn mà thôi.”
Lại đi thêm hai ngày, chúng ta gặp một đội tàn binh.
Hơn mười người, giáp trụ rách nát, đao cũng đã mẻ lưỡi, vừa nhìn đã biết là người từ tiền tuyến rút lui.
Người dẫn đầu chừng ba mươi tuổi, một cánh tay được treo bằng mảnh vải rách, m.á.u đã khô, vết thương chuyển sang màu đen.
“Các ngươi từ đâu đến?” Trần sư phụ hỏi.
Người dẫn đầu mang vẻ mặt c.h.ế.t lặng.
“U Châu.”
Tim ta chùng xuống.
“U Châu xảy ra chuyện gì?”
“Ba ngày trước đã thất thủ. Cố tướng quân dẫn chúng ta t.ử thủ suốt bảy ngày, đạn d.ư.ợ.c lương thực đều cạn kiệt, cuối cùng thành bị phá. Tướng quân dẫn người đoạn hậu, bảo chúng ta rút lui báo tin.”
“Nhưng… chúng ta đã đi đến mấy tòa thành xin cứu viện, không nơi nào chịu phái viện binh…”
Tay ta bắt đầu run lên.
“Tướng quân đâu?”
“Không biết. Khi thành vỡ, ngài ấy vẫn còn đang giao chiến trong ngõ phố. Ba nghìn người, cuối cùng chỉ còn mấy người chúng ta.”
Trong đầu ta vang lên tiếng ong ong.
Ba nghìn người đối đầu ba vạn man tộc.
Cố Cảnh Đình đã thủ thành suốt bảy ngày.
“Các ngươi định đi đâu?”
Người dẫn đầu sững ra.
“Không biết. Đi về phía Nam thôi, có thể đi được bao xa thì đi.”
“Đừng đi về phía Nam nữa.”
Ta nói: “Theo ta đi về phía Bắc.”
Hắn trợn mắt.
“Về phía Bắc? Phía Bắc toàn là man tộc!”
“Man tộc đã phá U Châu, bước tiếp theo chính là Nhạn Môn Quan. Một khi Nhạn Môn Quan thất thủ, kinh thành sẽ không còn được bảo vệ.”
Ta nhìn bọn họ.
“Các ngươi là binh sĩ, gia quyến của các ngươi đều ở kinh thành. Chẳng lẽ các ngươi muốn tận mắt nhìn man tộc g.i.ế.c vào kinh thành hay sao?”
Hơn mười người nhìn nhau, không ai nói gì.
“Trên xe của ta đều là d.ư.ợ.c liệu, phía trước còn có đại phu. Các ngươi đi cùng ta, trên đường ta sẽ chữa thương cho các ngươi. Đến Nhạn Môn Quan, nếu giữ được quan ải, các ngươi là công thần. Nếu không giữ được, c.h.ế.t trên chiến trường cũng tốt hơn làm đào binh.”
Im lặng rất lâu.
Người dẫn đầu giật phăng mảnh vải đang treo trên cánh tay, nghiến răng.
“Đi.”
Khi xe đi qua địa giới U Châu, từ xa đã trông thấy khói đặc bốc thẳng lên trời. Cả tòa thành chìm trong biển lửa.
Trần sư phụ hỏi: “Vẫn đi tiếp sao?”
Ta đáp: “Đi tiếp.”
Ông nhìn ta một cái, gật đầu, vung roi quất lên mình con la.
Xe la xuyên qua khói đặc và mùi m.á.u tanh, hướng về Nhạn Môn Quan.
Trong khi đó, ở một nơi nào đó ngoài quan ải, Cố Cảnh Đình toàn thân đầy m.á.u đang dựa vào bức tường thành đổ nát. Thanh đao trong tay chàng đã mẻ lưỡi.
Sau lưng chỉ còn chưa đến hai trăm người.
Trước mặt là tiền quân man tộc, ít nhất cũng năm nghìn người.
“Tướng quân.” Phó tướng phía sau khàn giọng nói, “huynh đệ đã chuẩn bị xong.”
Cố Cảnh Đình chống đao đứng dậy, nhìn về phía chân trời phương Bắc.
Chàng nhớ đến cô nương trong đại đường Thẩm phủ.
Nàng mặc một bộ y phục màu vàng nhạt, đứng giữa những tiếng xôn xao của cả đại đường, bình tĩnh nhìn chàng rồi nói:
“Cố Cảnh Đình, hôn sự này, không lui.”
Chàng nhắm mắt, rồi lại mở ra.
“Đi.”
Hai trăm tàn binh đi theo chàng, hướng về phía năm nghìn man tộc, nghênh chiến.
Còn lúc này, một chiếc xe la cũ kỹ chở đầy d.ư.ợ.c liệu đang từ phương Nam chạy đến.