Chàng im lặng một lát, rồi lấy từ trong n.g.ự.c ra một chiếc còi nhỏ bằng huyền thiết, treo lên đai lưng ta. “Nếu có chuyện, thổi ba tiếng.”
Ta cúi đầu nhìn chiếc còi. Nó đã cũ, các cạnh được mài nhẵn bóng, tựa hồ chàng đã mang theo bên mình suốt nhiều năm.
“Đây là thứ gì?”
“Còi cầu viện của quân Vân Tắc, âm thanh truyền rất xa.”
Ta ngẩng đầu hỏi chàng: “Chàng đưa đồ của mình cho ta, vậy nếu chàng gặp chuyện thì sao?”
Vành tai Lê Nghiễn dần đỏ lên, nhưng giọng vẫn cứng rắn. “Ta có đao.”
Ta suýt bật cười, rồi lại cố nén ý cười xuống. “Lê tướng quân, đao cũng không phải vạn năng.”
“Ta biết.” Chàng nhìn ta, ánh mắt vô cùng vững vàng. “Nhưng ta muốn nàng được bình an.”
4
Khi đoàn xe rời kinh, Mộ Thanh Huy đến tiễn ở cổng thành.
Huynh ấy mặc quan bào màu trăng, tay cầm một chiếc hộp sơn. Sau khi cung kính hành lễ, huynh ấy mới đưa hộp cho ta.
“Điện hạ, bên trong là danh sách những người còn thiếu lương của thư viện ngoại ô kinh thành trong mấy năm gần đây. Quê quán của các học trò phần lớn ở Bắc địa, có lẽ sẽ giúp ích được phần nào.”
Ta mở hộp ra xem. Trên giấy ghi chi chít tên họ, quê quán và số người trong nhà. Có người còn nợ học phí, có người nhà đã cạn lương thực, chỉ đành bỏ học trở về quê.
“Huynh đưa những sổ sách này cho ta, vậy thư viện bên kia phải làm sao?”
“Ta đã sao chép một bản.” Mộ Thanh Huy mỉm cười. “Cha ta lúc trẻ cũng từng nhận gạo từ ruộng học điền, nên hiểu người đọc sách khi nghèo túng sẽ khổ sở thế nào. Nếu có thể tìm được họ, vẫn tốt hơn để họ mắc kẹt giữa đường.”
Ta trịnh trọng nhận lấy. “Đa tạ Mộ thám hoa.”
Huynh ấy liếc nhìn Lê Nghiễn ở cách đó không xa. Chàng đang ngồi trên lưng ngựa, mặt còn nghiêm hơn cả tường thành.
Mộ Thanh Huy hạ thấp giọng, nói với ta: “Hoàng hậu nương nương nhắc đến chuyện ban hôn, lúc ấy ta không từ chối ngay là vì sợ làm nương nương mất mặt. Thật ra trong lòng ta đã có một cô nương, nàng ấy đang đợi ta trở về Giang Nam.”
Ta hơi bất ngờ.
“Nhà nàng mở hiệu t.h.u.ố.c, tính tình rất dữ.” Nói đến đây, trong mắt huynh ấy ánh lên ý cười. “Nàng chê ta đọc sách đến ngốc người. Trong thư gửi đến năm ngoái, nàng còn mắng ta, bảo nếu ta không trở về nữa thì nàng sẽ bán hết sách của ta làm củi đốt.”
Ta cũng bật cười. “Vậy huynh nên hồi âm sớm hơn.”
“Ta đã hồi âm rồi.” Mộ Thanh Huy chắp tay. “Điện hạ, thượng lộ bình an.”
Đoàn xe đi về phía bắc suốt năm ngày, thời tiết càng lúc càng lạnh. Ruộng đồng hai bên đường nứt nẻ, ngoài những gốc rạ khô vàng thì chẳng còn gì. Khi đến ngoài thành An Châu, lều cháo còn chưa dựng xong, một đám người áo quần mỏng manh đã vây tới.
Ta bảo thị vệ ngăn thành lối đi trước, rồi sai nữ quan ghi lại số người. Có người nóng ruột chen lên, khiến một phụ nhân đang ôm con suýt ngã. Ta lập tức xuống xe ngựa, đỡ lấy cánh tay nàng.
Cổ tay nàng gầy đến đáng sợ, đứa trẻ trong lòng lại sốt đến đỏ bừng cả mặt.
“Đứa trẻ đã mấy ngày không ăn gì rồi?” Ta hỏi.
Môi phụ nhân trắng bệch, lắp bắp đáp: “Đêm qua uống được nửa bát nước cơm… phu quân của dân phụ vào thành tìm việc, đã ba ngày chưa trở về.”
Ta gọi nữ y đi theo đến, bảo nàng ấy bế đứa trẻ đi bắt mạch, rồi sai người lấy một bát cháo nóng.
Chủ bạ An Châu phụ trách lương thực vội vã chạy tới, vẻ mặt đầy khó xử. “Điện hạ, cứ phát như vậy thì lương thực chẳng trụ được bao lâu. Hạ quan cho rằng nên phát trước cho bá tánh có hộ tịch, còn những dân lưu tán bên ngoài…”
“Những người ngoài cổng thành này từ đâu đến?” Ta hỏi.
Chủ bạ sững người.
“Họ cũng là bá tánh Đại Chiêu.” Ta nhìn đám người đang xếp hàng. “Nếu phát lương theo hộ tịch, vậy những người đ.á.n.h mất lộ dẫn trên đường chạy nạn thì sao? Còn những đứa trẻ bị lạc người thân thì sao?”
Chủ bạ lau mồ hôi, thấp giọng nói rằng kho lương đã cạn đáy.
Ta sai người khiêng bàn đến, trải danh sách Mộ Thanh Huy đưa cho ta ra. Trong sổ sách của thư viện có rất nhiều học trò ở các vùng quanh An Châu, quê quán và tông tộc đều được ghi chép rõ ràng. Ta bảo những cựu học trò của thư viện giúp nhận diện người trong làng, sau đó để lý chính đứng ra bảo đảm, trước tiên đăng ký cả những người không có lộ dẫn.
Mãi đến chạng vạng, Lê Nghiễn mới dẫn một đội kỵ binh vào thành.
Trên người chàng đầy bụi đất. Vừa thấy ta ngồi trước lều cháo phát t.h.u.ố.c cho trẻ nhỏ, sắc mặt chàng lập tức sa sầm.
“Ai cho nàng ở đây?”
Ta ngẩng đầu nhìn chàng. “Ta tự đến.”
“Nơi này đông người, nếu có dịch bệnh thì sao?”
“Nếu thật sự có bệnh, càng phải giữ đại phu và t.h.u.ố.c lại.”
Chàng bị ta chặn họng, không nói được lời nào. Chàng đảo mắt nhìn vào lều cháo, rồi bỗng xắn tay áo, giúp thị vệ chuyển những bao lương thực.
Sức chàng rất lớn, một bao lương được vác lên vai nhẹ như không. Bá tánh xung quanh nhận ra chàng là tướng quân, vội vàng muốn quỳ xuống. Chàng phất tay, bảo mọi người cứ tiếp tục xếp hàng như cũ.
Đêm ấy, thứ sử An Châu bày tiệc, nói là để đón gió tẩy trần cho công chúa và tướng quân.
Ta chỉ liếc nhìn rượu thịt trên bàn đã sai người dọn xuống.
“Bên ngoài thành vẫn còn người phải uống nước cơm, vậy mà bàn tiệc của thứ sử đại nhân lại đầy đủ cá thịt.” Ta đẩy sổ sách đến trước mặt ông ta. “Kho lương nói đã trống, nhưng nhà bếp của phủ nha vẫn mua được thủy sản tươi. Đại nhân hãy cho ta một lời giải thích rõ ràng.”
Nụ cười trên mặt thứ sử cứng đờ. Ông ta vội quỳ xuống giải thích, nói rằng những món này do thương hộ biếu tặng.
Lê Nghiễn đứng sau lưng ta, không nói một lời, chỉ đặt thanh bội đao bên cạnh án.