Ngày thứ mười sau khi Tiêu Thừa Dận bị bỏ ngục, tin cấp báo từ Tây Bắc truyền về kinh. Bắc Địch liên tiếp phá ba thành, trong kho tiền tuyến lại có một lượng lớn nỏ bị hỏng.
Thủ tướng liên tục gửi mười hai đạo công văn vào kinh, thúc giục viện binh và quân giới có thể sử dụng. Quần thần tranh luận đến sáng, dù điều binh hay bỏ thành cũng không thể giải quyết lỗ hổng quân giới trước mắt.
Lúc này, Bộ Binh mới thật sự hiểu bộ nỏ mới của Xảo Cơ phường không phải món đồ chơi trong khuê các, mà là mạng sống đang chờ được dùng trên tường thành.
Tri Ý bị triệu vào cung ngay trong đêm. Ngoài cung môn, con nắm tay ta: “Nương, con hơi sợ.”
Ta chỉnh lại áo choàng cho con: “Nỏ con chế tạo có thể cứu người. Kẻ nên sợ là những người nhận bổng lộc mà không chịu làm việc.”
Trời sáng, con trở về, nói hoàng đế lệnh con theo quân đến Tây Bắc, đốc thúc sửa chữa quân giới. Quầng mắt con thâm đen, tay áo còn dính mực từ ngự thư phòng.
Thời hạn hoàng đế giao rất ngắn: vừa sửa những chiếc nỏ cũ hỏng trong kho, vừa dạy quân tượng cải tiến nỏ mới. Chậm trễ bất cứ khâu nào, tiền tuyến đều có thể mất thêm một thành.
Lồng n.g.ự.c ta thắt lại: “Theo quân?”
“Nương, con muốn đi.” Con nhìn thẳng vào ta: “Con muốn tận mắt thấy những chiếc nỏ ấy giữ được tường thành.”
Kiếp trước, con c.h.ế.t ở Tây Bắc; kiếp này, con vẫn chủ động bước về nơi ấy.
Đương nhiên ta sợ. Mảnh đất cát vàng ấy từng chôn vùi con. Chỉ cần nghe hai chữ Tây Bắc, ta lại nhớ đến nấm mồ đất không tên kia.
Kiếp trước, khi ta đuổi đến thì đã quá muộn. Ta chỉ có thể đứng trước mộ hỏi vì sao con không viết thư. Sau này ta mới biết thư bị Tiêu Thừa Dận giữ lại, quân y cũng không vào được phòng con.
Con từng chờ ta ở nơi ấy, còn ta ngay cả mặt con lần cuối cũng chẳng được nhìn.
Thế nhưng Tri Ý trước mắt vẫn đang nắm tay ta. Con không bị ai áp giải lên đường, cũng chẳng phải vì muốn lấy lòng bất kỳ ai. Con muốn sửa nỏ, muốn tận mắt xem tay nghề của mình có thể bảo vệ những người giữ thành hay không.
Trong mắt con không có vẻ tuyệt vọng của kẻ bị ép buộc, chỉ có ánh sáng rực lên vì cuối cùng cũng được tự tay kiểm chứng bản lĩnh.
Con tự chọn con đường này. Ta không thể vì cơn ác mộng của mình mà nhốt con trở lại nội trạch.
Ta nắm tay con: “Ta đi cùng con.”
“Nơi ấy khắc nghiệt, thân thể người sao chịu nổi…”
“Con chịu được, ta cũng chịu được. Huống hồ có vài món nợ cũ, chỉ đến Tây Bắc mới tính rõ được.”
Ngày xuất phát, Bùi Minh Châu đột nhiên xông đến cổng thành, nhào tới nắm dây cương ngựa của Tri Ý: “Tỷ tỷ, cầu xin tỷ cứu tướng quân! Tỷ nói với bệ hạ rằng bản vẽ chỉ là hiểu lầm, ngài ấy sẽ được thả ra.”
Tri Ý cúi đầu nhìn nàng ta: “Chàng ta có hãm hại ta hay không, Đại Lý Tự sẽ tra. Ta không nói dối thay chàng ta.”
“Ngươi chỉ hận chàng ấy!” Bùi Minh Châu khóc thét: “Ngươi không có được chàng ấy, nên muốn hủy hoại chàng ấy!”
Ta ghìm ngựa chắn trước mặt: “Ngươi nói ngược rồi.”
“Chúng ta đã sớm không cần chàng ta nữa. Thứ ngươi nhặt về coi như báu vật, đừng mang đến trước cửa đại phòng nữa.”
Bùi Minh Châu ngã ngồi xuống đất: “Các người sẽ hối hận…”
Ta không ngoảnh đầu. Cổng thành khép lại sau lưng, tiếng khóc của Bùi Minh Châu nhanh ch.óng bị gió cuốn tan.
Điều nàng ta cầu xin là xóa bỏ chứng cứ phạm tội cho Tiêu Thừa Dận. Từ đầu đến cuối, nàng ta chưa từng hỏi Tri Ý có bị vu cáo hay không, càng chẳng quan tâm tiền tuyến có vì bản vẽ giả mà khiến thêm người c.h.ế.t hay không.
Trong mắt loại người này chỉ có phu quân và danh phận của mình, mạng người khác đều có thể đem ra lấp chỗ trống.
Ra khỏi thành mười dặm, Tri Ý mới nói: “Nương, nàng ta trông thật đáng thương.”
“Đường là nàng ta tự chọn, hậu quả cũng phải tự gánh. Trong mơ, lúc nàng ta nhìn con uống t.h.u.ố.c, nàng ta có từng nói giúp con một câu không?”
Tri Ý cụp mắt, không nói thêm.
Một tháng sau, chúng ta đến Tây Bắc. Càng đi về phía tây, cây cối ven đường càng thấp. Mấy ngày cuối, ngoài cửa xe chỉ còn đất vàng đông cứng và những triền hoang bị gió bào phẳng.
Khi vào doanh trại, trước cửa sở quân giới chất đầy nỏ cũ chưa kịp sửa. Cánh nỏ nứt toác, dây cung ẩm mốc; mấy quân tượng thay phiên làm việc, hai bàn tay đầy những vết nứt vì lạnh.
Gió Tây Bắc cuốn cát vàng quất lên mặt đau rát. Tri Ý suốt ngày vùi mình trong sở quân giới, còn ta dựa vào tín vật mẫu thân để tìm mấy cựu thám t.ử đã mai danh ẩn tích.
Con chọn những chiếc nỏ cũ còn sửa được, dạy người ta thay mộng nối, điều chỉnh dây cung theo chỗ hư hại. Ban ngày, con cùng quân tượng thử b.ắ.n; ban đêm, con lại cúi bên bàn gỗ sửa kích thước, mệt quá thì dựa tường chợp mắt một lát.
Vài ngày sau, lô nỏ đầu tiên được sửa xong đưa lên tường thành. Quân giữ thành cuối cùng cũng không phải dùng cung tàn mà gắng gượng nữa.
Vừa nhìn thấy tín vật, bọn họ liền quỳ xuống: “Phu nhân cuối cùng cũng đến rồi. Chứng cứ phạm tội của Tiêu Thừa Dận trong quân, chúng thuộc hạ đã thay lão chủ nhân cất giữ suốt bao năm.”
Người đứng đầu đưa ta một chiếc hộp sắt, nói sổ sách bên trong ghi lại việc Tiêu Thừa Dận biển thủ quân lương, còn thư từ trong hộp là chứng cứ chàng ta qua lại với thương nhân biên địa, buôn bán lương thực quân đội.
Phong thư cuối cùng trong hộp, vậy mà đóng dấu ưng của Bắc Địch.
Ta lật từng trang. Khoản quân lương Tiêu Thừa Dận mượn danh quân nhu để biển thủ đều được ghi rõ theo năm tháng, số lượng lớn đến khiến người ta kinh hãi.