“Sau đó họ cũng sống hạnh phúc bên nhau.”

Ta ngẩn ra một lúc, nghĩ kỹ rồi không nhịn được bật cười thành tiếng.

Thấy ta cười, khóe miệng Trâu Dư Thanh cũng hơi cong lên.

Sợ ta buồn chán, hắn lại kể thêm hai câu chuyện nữa.

Ta sợ làm chậm thời gian đọc sách của hắn, cũng sợ cứ nhìn nhau mãi sẽ ngượng, nên nhắm mắt giả vờ ngủ.

Giọng Trâu Dư Thanh nhỏ và đều.

Chiếc quạt hương bồ trong tay hắn cũng chậm rãi phe phẩy.

Không ngờ ta thật sự được hắn dỗ ngủ lúc nào không hay.

Đêm hè oi bức như có lửa hong quanh người.

Nửa đêm, tiếng dế ngoài tường rả rích như mưa, khiến ta tỉnh giấc.

Trâu Dư Thanh vẫn mặc nguyên y phục nằm dưới đất.

Có lẽ vì nóng, trán hắn lấm tấm mồ hôi.

Ta mới ngủ được một giấc, lúc này không còn quá buồn ngủ, bèn cầm lấy chiếc quạt hương bồ trong tay hắn, nhẹ nhàng quạt thay.

Ta chống cằm, vừa quạt vừa nghĩ, đóa hoa nhung đỏ kia nếu cài lên tóc hắn thì sẽ đẹp hơn, hay đặt bên thái dương sẽ hợp hơn.

Ánh sao rải xuống nửa sân.

Chỉ cần tưởng tượng dáng vẻ Trâu Dư Thanh cài hoa, ta đã không nhịn được mỉm cười.

Thôi vậy.

Ngày mai tạm thời không đi nữa.

Đợi ta đan xong chiếc chiếu này, tặng hắn rồi hẵng rời đi.

Ta cũng chẳng chịu thiệt.

Cứ coi như trả lại ba câu chuyện và miếng kẹo gạo kia.

Trong lòng ta càng nghĩ càng rõ ràng.

Hắn tốt với ta một phần, ta sẽ trả hắn một phần.

Đến ngày thật sự chia tay, nếu hắn nói từng kể chuyện cho ta nghe, ta có thể nói mình từng quạt cho hắn ngủ.

Nếu hắn nhắc đã mua kẹo gạo, ta sẽ đáp mình cũng từng đan chiếu tặng hắn.

Như vậy chẳng phải hai bên không ai nợ ai sao?

Chỉ có điều Trâu Dư Thanh cứ ngày một cho nhiều hơn, khiến ta dần chẳng biết phải trả thế nào.

Biết ta sợ nóng, hắn mua về một chiếc gối mây nhỏ, nằm lên mát cổ, ngủ cũng bớt đổ mồ hôi.

Sáng hôm sau, người bán hàng rong còn mang tới một gói ô mai.

Người ấy nói Trâu Dư Thanh cố ý nhờ mua, bảo ngâm với nước giếng, đến trưa ngủ dậy uống một chén là giải nhiệt nhất.

Ngày hè kéo dài, bóng cây lại ngắn.

Ta tựa đầu lên gối mây, trong lòng như có một làn gió mát lướt qua.

Từ nhỏ đến lớn, đây là lần đầu tiên ta có thể nhàn nhã ngủ một giấc trưa.

Không ngờ đang ngủ thì cửa bị đập ầm ầm.

Khách không mời mà tới lại là thẩm mẫu cùng đệ đệ.

Vừa thấy ta mới ngủ dậy, trên má còn hằn vết gối mây, thẩm mẫu đã chua giọng.

“Con nha đầu này, đến giờ mới dậy sao?”

“Cứ lười thế này, sớm muộn cũng bị nhà phu quân ghét bỏ.”

Bà ta vừa nói vừa vốc một nắm kẹo gạo nhét vào tay đệ đệ.

Ánh mắt lại đảo quanh căn nhà, miệng không ngừng chê bai.

“Ngày trước ở nhà ta đã nói với ngươi thế nào?”

“Vừa lười vừa tham, sau này bị người ta đuổi về thì xem ngươi khóc ở đâu.”

Khóc ở đâu ư?

Ta chẳng định trở về chỗ nào cả.

Ta đã dành dụm được một hũ tiền.

Sau này chỉ cần thuê một gian hàng nhỏ, ta sẽ không phải nhìn sắc mặt ai mà sống nữa.

Đệ đệ thấy gói ô mai liền lăn ra mè nheo đòi uống.

Ta quay mặt đi, không muốn để ý.

Không ngờ thẩm mẫu lại bất chợt thở dài.

“Thôi, dù sao thấy ngươi yên bề gia thất, ta cũng an tâm.”

Từ trước đến nay bà ta chưa từng nói với ta lời mềm mỏng như vậy.

Nghe xong, lòng ta bỗng chua xót.

Ta gánh thùng đi lấy nước giếng.

Đến khi trở về, thẩm mẫu và đệ đệ đã đi mất.

Gói ô mai và kẹo gạo trên bàn cũng không còn.

Ta chỉ biết thở dài.

Thôi, cứ xem như ta cho họ.

Ta ngồi xuống tiếp tục đan chiếu.

Buổi chiều người bán hàng rong lại ghé qua.

Ta nghĩ gói ô mai là Trâu Dư Thanh mua, dù sao cũng nên mua lại một ít để hắn nếm thử.

Ta cúi xuống tìm hũ tiền đặt dưới giường.

Nhưng vừa mở ra, cả người liền cứng đờ.

Chiếc hũ sành trống không.

Ta lập tức nhớ đến đôi mắt láo liên của thẩm mẫu lúc trưa, rồi nhớ bà ta cùng đệ đệ rời đi quá vội vàng.

Sau khi nói qua với người bán hàng rong vài câu, ta lao ra khỏi cửa.

Thẩm mẫu đóng c.h.ặ.t cửa, nhất quyết không gặp.

Ta đứng ngoài đập cửa, bà ta còn quay ra mắng ta vu oan giá họa, không có chứng cứ mà dám ngậm m.á.u phun người.

Mắng đến cuối, bà ta chống nạnh, đắc ý bảo ta cứ việc đi báo quan.

Bà ta nói bao nhiêu năm nay đã cho ta cơm ăn, ơn nuôi dưỡng lớn hơn trời.

Nếu ta thật sự kiện bà ta, trước khi quan xử chuyện trộm cắp, chỉ riêng tội bất hiếu cũng đủ để ta chịu mười gậy.

Trời dần tối.

Ta chỉ mải buồn, không nhìn đường, cuối cùng trẹo cả chân.

Mắt cá sưng lên, đau đến mức không thể đi tiếp.

Ta đành ngồi xuống tảng đá lớn dưới gốc liễu bên bờ sông.

Từ xa nhìn lại, từng nhà đã lên đèn.

Nhưng giữa vô số ánh đèn ấy, không có một ngọn nào là vì ta mà sáng.

Ngày trước ở nhà thẩm mẫu, ta làm lụng đến kiệt sức, nhiều lần phải trốn đi khóc, chỉ mong sớm được gả đi.

Đến Chu gia, Chu Nghiễn Lễ chỉ vào chiếc hũ sành, cho ta một chút hy vọng.

Ta cứ tưởng từ đó mình có thể tự lựa chọn cuộc sống.

Ta cứ tưởng lần này thật sự khác.

Chiếc hũ ấy rõ ràng đã từng đầy.

Số tiền ấy đủ mua một vé thuyền, đủ thuê một cửa hàng nhỏ.

Vậy mà cuối cùng vẫn thành công cốc.

Gió đêm hè vốn nóng, nhưng tay và mặt ta lại lạnh ngắt.

Khóc một lúc lâu, ta mới nhận ra xung quanh đã tối đen.

Trong lòng bắt đầu sợ, ta gắng gượng đứng lên, khập khiễng đi về phía Trâu gia.

Không còn hũ tiền, sau này có lẽ ta lại phải sống như ở Chu gia, làm gì cũng nhìn sắc mặt người khác.

Đúng lúc ấy, xa xa có một ánh đèn lay động.

Người cầm đèn đi tới là Trâu Dư Thanh.

Nghe thấy tiếng động, hắn lập tức gọi.

“Là Liễu Tam cô nương sao?”