“Tháng thứ hai, lầu Túy Nguyệt bắt đầu có người xếp hàng để diện kiến ta.
Quan lại kinh thành, phú thương nơi khác, tai mắt của các quan phiên vương đặt tại kinh thành, từng người một xếp hàng dâng bạc đến trước mặt ta.
Ta dâng trà, gảy đàn, nói những lời bâng quơ không đau không ngứa cho họ nghe, thi thoảng để lộ ra một đôi chút tin tức, đủ để họ mang về giao phó công chuyện, nhưng lại chẳng đủ để họ thực sự làm nên trò trống gì.”
Ta đang đợi một người.
Nước kinh thành rất sâu, nhưng nước có sâu đến mấy cũng có đáy.
Ta không vội, ta dùng ba tháng trời để sờ soạn qua từng viên đá dưới đáy dòng nước này, rồi tìm ra một viên đá vững chãi nhất, cứng cáp nhất, có thể giúp ta giẫm lên đó mà leo lên cao.
Viên đá ấy chính là đại công t.ử của phủ hầu Trấn Nam, Tạ Vô Cữu.
Lần đầu tiên chàng đến lầu Túy Nguyệt là vào một đêm mưa gió.
Bên ngoài mưa tầm tã, chàng vận một chiếc áo dài màu đen bán cựu, không mang theo tùy tùng, cũng chẳng có bạn đồng hành, một mình ngồi bó gối nơi góc khuất, gọi một ấm trà rẻ tiền nhất, ngồi nghe ta gảy đàn suốt một đêm tròn.
Không gọi khúc, không nói một lời, nghe xong liền đứng dậy bỏ đi, tiền trà lẫn tiền thưởng tổng cộng vừa vặn hai lượng bạc.
Tháng thứ hai, chàng lại tới ba lần, lần nào cũng thế.
Tháng thứ ba, đến lần thứ tư ghé lại, chàng cuối cùng mới mở miệng nói câu đầu tiên.
Chàng bảo:
“Nàng gảy đàn, trong mắt không có ánh sáng."
Ta dừng ngón tay đang bấm dây đàn, ngước mắt nhìn chàng.
Chàng chừng hai mươi lăm hai mươi sáu tuổi, dáng người cao gầy, mặt mũi lạnh lùng như băng, trên xương mày có một vết sẹo cũ c.h.ặ.t chéo từ đuôi mày vào tận chân tóc.
Đôi mắt ấy khi nhìn xoáy vào ta tựa như một lưỡi d.a.o vừa mới mài sắc, không vội làm người ta bị thương, nhưng ta biết nó có thể lấy mạng người bất cứ lúc nào.
“Tạ công t.ử nghĩ sao," ta nhấc tay khỏi dây đàn, đặt trên gối, khẽ nghiêng đầu nhìn chàng, “người gảy đàn thì trong mắt nên có thứ gì?"
“Người khác gảy đàn, trong mắt là tình," chàng đáp, “nàng gảy đàn, trong mắt là sự tính toán."
Gian buồng trong lầu Túy Nguyệt chợt tĩnh lặng trong giây lát.
Tiếng mưa bên ngoài bỗng lớn hẳn lên, ào ào trút xuống, hơi lạnh ẩm ướt tràn vào bủa vây khắp căn phòng.
Ta nhìn vào đôi mắt như d.a.o hớt của chàng, chậm rãi nở nụ cười.
“Tạ công t.ử thật tinh tường," ta nói, “tiếc là ngài đã nhìn nhầm một điều."
“Điều gì?"
“Ngài bảo trong mắt ta là sự tính toán," ta cầm ấm trà, rót đầy chén cạn trước mặt chàng, dòng nước xoáy ba vòng trong chén mới chịu dừng, “nhưng ngài có từng nghĩ qua — kẻ ta đang tính toán, biết đâu lại chính là ngài?"
Tạ Vô Cữu dán c.h.ặ.t mắt vào ta hồi lâu.
Trong tiếng mưa rơi, ta nghe thấy nhịp thở của chàng khựng lại một nhịp, rồi nhanh ch.óng lấy lại vẻ bình thản.
Chàng bưng chén trà ta vừa rót, nhấp một ngụm, đặt chén xuống, đứng dậy bước ra phía cửa, dừng bước chân nhưng không hề quay đầu lại.
Chàng bảo:
“Ngày mai giờ Mùi, phủ hầu Trấn Nam sẽ cho người đến đón nàng."
Nói đoạn, chàng đẩy cửa bước đi.
Ta ngồi nguyên tại chỗ, đầu ngón tay khẽ mơn trớn dây đàn, nghe tiếng bước chân của chàng xa dần nơi hành lang.
Mưa ngoài cửa sổ mỗi lúc một lớn, nhấn chìm cả kinh thành vào trong màn nước trắng xóa.
Ta chợt nhớ đến ao sen nơi hậu viện phủ họ Triệu, nhớ đến cọng sen đã cứu mạng mình, nhớ đến cái chạm lạnh lẽo mượt mà của bùn nhão lách qua kẽ ngón chân năm ấy.
Khi ấy ta coi cọng sen là sợi cọng cỏ cứu mạng duy nhất, c.ắ.n c.h.ặ.t đến ch/ết cũng không buông.
Giờ đây, ta đã tìm được một cọng sen mới.
Cọng sen này, tên gọi Tạ Vô Cữu.
Cỗ xe ngựa của phủ hầu Trấn Nam đến đón ta còn long trọng hơn ta tưởng.
Một cỗ xe mui xanh mướt, bốn con ngựa hồng sắc bóng bẩy, tùy tùng đi theo mười hai người, dẫn đầu là mụ quản sự nội viện của hầu phủ, họ Chu, năm mươi mấy tuổi, mặt tròn phúc hậu, cười lên trông giống như Phật Di Lặc tái thế.
Nhưng đôi mắt mụ thì không.
Đôi mắt ấy khi nhìn người ta cứ như đang cân đo xem miếng thịt này đáng giá mấy lượng bạc.
“A đầu thật là có dung mạo tốt," v.ú Chu đỡ ta lên xe, đưa mắt nhìn ngắm ta một lượt từ trên xuống dưới, cười híp cả mắt, “Đại công t.ử xưa nay chưa từng dẫn ai về phủ, cô là người đầu tiên đấy."
Ta mỉm cười, không đáp lời.
“Người đầu tiên".
Ba chữ này thốt ra từ miệng v.ú Chu, tuyệt đối chẳng phải là lời khen ngợi ta.
Mụ đang ngầm bảo ta rằng:
“Chuyện này cả trên lẫn dưới hầu phủ đều đã hay biết, lão thái thái biết, Hầu gia biết, Phu nhân cũng đã biết rồi.
Một nàng thanh kỹ chốn lầu xanh được đại công t.ử gọi lư hương, lại còn gióng trống khua chiêng rước vào phủ, chuyện này ở một gia thế tướng môn như phủ hầu Trấn Nam chẳng phải là điều vẻ vang gì.”
Mụ đang chờ ta hoảng hốt, chờ ta lấy lòng, chờ ta nhét bạc vào tay để cầu mụ nói đỡ cho vài lời tốt đẹp.
Ta thu tay vào trong tay áo, không hề nhúc nhích.
Cỗ xe khởi hành từ lầu Túy Nguyệt, đi xuyên qua nửa kinh thành, cuối cùng dừng lại trước cổng bên của phủ hầu Trấn Nam.
Không phải cổng chính.
Vú Chu bảo cổng chính đang trùng tu, đi cổng bên cho tiện đường.
Cả ta và mụ đều thừa hiểu cổng chính chẳng có trùng tu gì sất, chẳng qua là không muốn để một người đàn bà chốn lầu xanh bước qua cổng chính hầu phủ, làm bẩn ngưỡng cửa mà thôi.