“Thế thì không phải là chuyện của bàn tay nữa rồi.
Mà là cách ta cầm nắm đồ vật, là biên độ vung cánh tay khi đi đứng, là góc độ đầu gối chạm đất khi quỳ xuống, là bản năng phòng bị che chắn chỗ hiểm nghèo khi bị người khác dòm ngó — chính những chi tiết vụn vặt ấy đã bán đứng ta.”
Chàng đang thử thách ta.
Ta không hề hoảng hốt.
Hoảng hốt là thứ vô dụng nhất trên đời này, ngoài việc giúp cho đối thủ của ngươi chắc chắn rằng phán đoán của gã là đúng ra thì chẳng có ích lợi gì sất.
Điều này ta đã học được từ hồi bị đám thiếu gia nhà họ Triệu giương cung b/ắn tên rồi.
Khi ngươi bị mười mấy mũi tên chĩa vào người, chạy trốn là vô ích, khóc lóc cũng vô dụng, điều duy nhất ngươi có thể làm là đứng im bất động, chờ bọn chúng b/ắn mỏi tay rồi tự khắc sẽ bỏ đi thôi.
Ta chìa bàn tay ra khỏi tay áo, lật ngược lại, lòng bàn tay hướng lên trên, đưa đến trước mặt chàng.
“Tạ công t.ử nhìn lầm rồi," ta nói, “bàn tay của dân nữ quả thực là bàn tay cầm kim thêu đấy ạ.
Chẳng qua trước khi vào phường thêu, dân nữ từng bốc vác ở bến tàu, từng rửa bát ở quán ăn, từng dán người giấy ở tiệm quan tài nữa cơ ạ.
Vậy nên đôi bàn tay này có phần thô ráp hơn đám thợ thêu thông thường một chút."
Tạ Vô Cữu cúi đầu nhìn bàn tay ta.
Dưới ánh trăng, lòng bàn tay ta quả thực có mấy vết sẹo nông choèn.
Đó là vết tích năm bảy tuổi bị mảnh sứ vỡ cứa vào ở phủ họ Triệu, mụ cả đập vỡ chén trà rồi bắt ta quỳ xuống thu dọn, một mảnh sứ vỡ găm thẳng vào lòng bàn tay, ta tự mình rút ra rồi dùng mảnh vải rách quấn c.h.ặ.t suốt ba ngày trời.
Lại còn mấy vết chai sạn mờ mờ do mùa đông bổ củi để lại nữa.
Nhà củi phủ họ Triệu không có than sưởi, ta chỉ có thể dựa vào việc bổ củi để sưởi ấm thân mình, bổ đến mức tay đầy vết nứt nẻ vì lạnh, lành rồi lại loét, loét rồi lại lành.
Nhưng những vết tích ấy giờ đã mờ nhạt lắm rồi.
Mờ nhạt đến mức nếu không nhìn kỹ thì chẳng thể nào nhận ra được.
Tạ Vô Cữu nhìn hồi lâu.
Lâu đến mức cánh tay ta bắt đầu mỏi nhừ, lâu đến mức ngọn gió trong dãy hành lang nối đã đổi hướng đổi ngả, thổi chiếc l.ồ.ng đèn lụi tim gần như tắt ngấm.
Rồi chàng chìa tay ra, nắm c.h.ặ.t lấy cổ tay ta.
Tay chàng rất lạnh, vết chai nơi hổ khẩu cọ vào xương cổ tay ta làm hơi đau nhức.
Chàng lật qua lật lại bàn tay ta xem xét hai lượt, đầu ngón tay cái ấn ấn lên vết sẹo do mảnh sứ vỡ để lại trong lòng bàn tay ta, rồi mới buông ra.
“Bốc vác ở bến tàu," chàng bảo, “rửa bát ở quán ăn, dán người giấy ở tiệm quan tài.
Một đứa con gái nhỏ mới mười tuổi đầu mà làm toàn những nghề nghiệp thế kia, xem ra cũng đủ bộ đấy."
Giọng điệu chàng không có ý giễu cợt, cũng chẳng có lòng thương hại, giống như đang trần thuật lại một sự thực hiển nhiên vậy.
“Con nhà nghèo khó," ta nói, “sống sót được là tốt rồi, chẳng dám kén chọn nghề nghiệp đâu ạ."
Chàng liếc nhìn ta một cái, không nói năng gì thêm, quay người tiếp tục sải bước đi trước.
Ta đi theo sau lưng chàng, giữ khoảng cách chừng ba bước chân.
Lúc đi qua khu vườn, gió đêm đưa hương hoa hòe thoang thoảng tới, ngọt lịm nồng nàn, nồng đến mức khiến người ta có phần váng vất đầu óc.
Ta cụp mắt xuống, nhìn đôi ủng của chàng giẫm trên con đường đá xanh, từng bước từng bước một, nhịp điệu rất vững vàng, hệt như nhịp bước trong quân ngũ vậy.
Chợt chàng mở miệng lên tiếng.
“Năm năm trước, doanh trại Tây Bắc."
Bước chân ta khựng lại một nhịp.
“Triệu võ Giáo úy Tạ Vô Cữu vâng chỉ đi dẹp giặc cướp," chàng tiếp tục nói, giọng rất thấp, tựa như đang lầm bầm tự nói với chính mình, “Tên tướng cướp đóng đồn ở sâu trong núi Kỳ Liên, nơi ấy dễ thủ khó công.
Ta dẫn ba trăm khinh kỵ binh, đi vòng qua đường núi, từ vách đá sau leo lên, thừa cơ đêm tối đột kích."
Chàng không quay đầu lại, nhưng ta có thể cảm nhận được giọng nói của chàng đã đổi khác.
Trở nên rất nhẹ, rất chậm, tựa như sợ làm kinh động đến thứ gì đó vậy.
“Đêm ấy g/iết rất nhiều người.
Lúc trời tảng sáng, trong đồn lũ cướp đã không còn một ai sống sót nữa rồi.
Ta vào hậu trại kiểm đếm tên tuổi, phát hiện ra một đứa con gái nhỏ dưới một miệng giếng cạn."
Bàn tay ta bắt đầu lạnh ngắt.
“Nó chừng bảy tám tuổi đầu, gầy gò như một bó củi khô, ngồi thụp dưới đáy giếng, khắp người tất thảy đều là m/áu.
Không phải m/áu của nó, mà là m/áu của cái xác ch/ết bên cạnh nó kìa.
Một người đàn bà, chắc là mẫu thân của nó, trước khi ch/ết đã đẩy nó xuống giếng, rồi dùng chính thân xác mình che kín miệng giếng lại."
Tiếng côn trùng kêu trong vườn chợt lớn hẳn lên.
“Lúc ta kéo nó từ dưới giếng lên, nó nhìn ta bằng một ánh mắt," Tạ Vô Cữu dừng bước chân, quay người lại, ánh trăng c.h.ặ.t khuôn mặt chàng thành hai nửa sáng tối, “Cái thứ ánh mắt ấy đời này ta mới nhìn thấy độc một lần.
Không phải sợ hãi, không phải biết ơn, cũng chẳng phải thù hằn, mà là một sự... trong một khoảng thời gian ngắn ngủi đã tính toán qua hết thảy mọi khả năng xảy ra, rồi chọn lấy một khả năng an toàn nhất."
Chàng nhìn xoáy vào mắt ta.
“Ánh mắt của nó bảo ta rằng, nó đang quyết định xem nên dùng bộ mặt nào để đối diện với ta — kẻ đã g/iết sạch cả tộc của nó."
Gió thổi qua khu vườn, hoa hòe rụng rơi rào rào đầy đất.
Ta đứng nguyên tại chỗ, tim đập thình thịch như gõ trống trận, nhưng trên mặt ta tuyệt nhiên không lộ một nét gì.
Khóe miệng nhếch lên góc độ nào, thần thái đôi mắt ra sao, nhịp điệu hơi thở thế nào, mỗi một chi tiết tất thảy đều được kiểm soát ở vị trí thích đáng nhất.
“Câu chuyện này của Tạ công t.ử," ta nói, “có hệ trọng gì đến dân nữ không ạ?"
Tạ Vô Cữu dán c.h.ặ.t mắt vào ta chừng ba tiếng đếm.
Rồi chàng bật cười.