Cựu Vũ Lai

Chương 2: Bồ Tát

1

Tượng Bồ Tát ấy ngồi trên tòa sen đã sụp mất một nửa, đầu hơi cúi xuống, như đang nhìn điều gì, lại như chẳng nhìn gì cả.

Gương mặt nàng còn nguyên vẹn – thứ duy nhất còn nguyên vẹn trong cả ngôi miếu. Dung nhan đất nặn đã bị năm tháng hun thành màu xám nâu, nước mưa từ mái dột xuống, men theo trán nàng chảy thành từng vệt sẫm màu, như từng khóc, lại như từng bị người ta dùng d.a.o rạch qua. Nhưng nàng vẫn đang cười. Đôi mắt cong thành hai đường chỉ mảnh, híp đến mức gần như không thấy đồng t.ử, khóe miệng hơi cong lên, cong thành một vòng cung dịu dàng vô cùng, từ bi vô cùng. Nụ cười ấy là vẽ lên, cũng là khắc vào từ thuở ban đầu – người thợ năm xưa hẳn đã mang theo mười hai phần thành kính, từng d.a.o từng d.a.o khắc lòng từ bi vào gương mặt này, khắc quá sâu, sâu đến mức về sau mọi thứ đều mục nát, nụ cười ấy vẫn còn lưu lại trên đó, không xóa nổi.

Nhưng nàng rõ ràng đã chẳng còn ra hình dạng gì nữa.

Cánh tay trái từ vai đứt lìa, chỗ đứt lộ ra lớp đất nặn xám trắng, như một khúc sen bị bẻ gãy. Cánh tay phải còn nửa đoạn, bàn tay thì đã mất, chỉ còn một ống tay áo trống rỗng buông thõng bên thân. Cánh sen dưới đầu gối vỡ vụn đầy đất, thân nàng nghiêng ngả tựa vào tòa sen tàn, lớp sơn vàng trên người bong tróc chỉ còn lác đác vài điểm, như da thịt chưa kịp thối rữa trên một x.á.c c.h.ế.t. Lư hương đã lật từ lâu, bàn thờ đã mục, mạng nhện từ vai nàng giăng thẳng lên xà nhà, phủ một lớp bụi dày.

Chính là một pho tượng đất vỡ nát, tàn khuyết, bẩn đến mức không nhìn ra màu vốn có ấy, lại cứ sinh ra một gương mặt cười như thế.

Nụ cười ấy ngay ngắn hướng về phía cửa miếu.

Mà nơi cửa miếu, có một bé trai đang ngồi xổm.

Ngoài kia mưa lớn. Màn mưa nối trời với đất thành một tấm vải xám mờ, gió cuốn hơi nước ùa vào, lạnh đến thấu xương. Nhưng nó không bận tâm. Nó co mình trong khoảng đất khô hiếm hoi có thể che mưa bên trong ngưỡng cửa, sống lưng tựa vào khung cửa, hai chân cuộn lại, gác mặt lên đầu gối, lặng lẽ nghe tiếng mưa.

Nó là một tên ăn mày nhỏ. Ngôi miếu hoang này là thứ nó tìm rất lâu mới thấy, sụp mất một nửa, dột mưa, có nhện, lại còn một pho tượng đất cụt tay gãy chân – nhưng dù sao cũng có bốn bức tường, dù sao cũng chắn được chút gió. Thế là đủ. Nó không quan tâm nơi này có sạch không, cũng không quan tâm pho tượng đất ấy từ đâu mà đến. Nó ngồi xổm ở đây, như một con mèo hoang cuối cùng cũng tìm được một cái lỗ để chui vào, cả người ướt sũng, nhưng rốt cuộc cũng có một nơi dung thân.

Nó quay lưng về phía Bồ Tát, từ đầu đến cuối chẳng buồn ngoảnh lại.

Nó không biết, cũng không cần biết, sau lưng có một gương mặt đang đối diện tấm lưng nó.

Nó không biết nụ cười ấy đã bao lâu, cũng không biết đôi mắt híp ấy có từng mở ra chưa. Nó chỉ biết ngoài kia mưa rất lớn, còn nó cuối cùng cũng có chỗ trú. Ngôi miếu này sụp, Bồ Tát này tàn, nhưng thì sao chứ? Trời đất bất nhân, nó sớm đã biết. Nó sống đến hôm nay, chưa từng dựa vào lòng từ bi của ai.

Ánh sáng trời rò qua mái nghiêng nghiêng cắt vào, một nửa rọi lên mặt Bồ Tát, một nửa chìm trong bóng tối. Nửa gương mặt trong tối ấy, khóe miệng hình như còn cong cao hơn nửa ngoài sáng. Đôi mắt híp ấy, rõ ràng không mở ra, lại như cách cả ngôi miếu trống hoác, cách những cánh tay tàn, những cánh sen vỡ và lớp bụi dày, bất động, mãn nguyện, nhìn chằm chằm vào tấm lưng nó.

Gió từ song cửa vỡ chui vào, thổi động mạng nhện, khẽ đung đưa. Ánh sáng trên mặt Bồ Tát cũng theo đó khẽ đung đưa.

Nụ cười ấy, từ đầu đến cuối không hề đổi khác.

Mà đứa bé, từ đầu đến cuối không hề quay lại.

2

Đứa bé và ngôi miếu hoang này, rốt cuộc vẫn bị phát hiện.

Bọn thiếu niên cao lớn lực lưỡng ấy vây quanh đứa bé, mỗi người một quyền một cước, đ.á.n.h đến mức nó gần như ngất đi.

Nó không phục, nhưng nó hết cách, nó quá yếu.

“Khụ khụ… các, các ngươi.” Lời chưa ra khỏi miệng, đã bị một người thô bạo nhét giẻ rách ướt mưa còn tanh mùi vào miệng.

Két –

Cửa mở, hai thiếu niên mười sáu mười bảy tuổi bước vào. Người đi trước cầm một thanh quạt, chậm rãi quạt đi mùi hôi khiến người ta buồn nôn. Người đi sau ẩn trong bóng tối, như tùy tùng của vị tiểu công t.ử kia.

Đứa bé nằm dưới đất cố nheo mắt nhìn cho rõ.

Mắt dài hẹp, đuôi mắt hơi hếch lên, như một nét phong nhận viết lệch, vô tình vạch ra mấy phần khinh mạn. Môi mỏng mím c.h.ặ.t, màu môi rất nhạt, khóe miệng lại trời sinh mang một chút cong hếch – không cười thì như đang cười, cười lên lại khiến đáy lòng người ta lạnh đi. Xương mày mọc rất cao, đỉnh mày lại ép rất thấp, cả gương mặt gầy gò góc cạnh, như bị ai dùng d.a.o từng nhát từng nhát gọt ra, gò má là gọt, cằm dưới là gọt, ngay cả chút bạc tình trời sinh ấy cũng là gọt ra.

“Đừng thô lỗ vậy chứ.” Giọng nói mang theo ý trêu đùa và lơ đễnh, như thể kẻ gần như bị đ.á.n.h đến m.á.u thịt be bét trước mắt chỉ là một con mèo hoang chẳng đáng nhìn.

Thiếu niên bước đến tòa sen, cẩn thận ngắm nghía vị Bồ Tát rơi khỏi thần đàn này. “Quả thật là… đẹp vô cùng!”

Thiếu niên híp mắt, bước đến bên đứa bé, đưa một bàn tay thon dài, muốn kéo nó dậy.

Đứa bé chần chừ, thiếu niên cứ thế chờ, không hề sốt ruột. Khoảnh khắc hai bàn tay giao nhau, tùy tùng sau lưng thiếu niên lập tức xuất hiện giữa hai người, một d.a.o đ.â.m thẳng vào yết hầu đứa bé.

“Ái chà chà.” Thiếu niên dùng hai đốt ngón tay khẽ cản, đoản đao dừng lại cách ngón tay một tấc.

Thiếu niên nâng cằm tùy tùng lên, lơ đễnh nói: “Hắn sẽ làm bẩn đao của ngươi.”

3

Đao quang kiếm ảnh chỉ trong một khoảnh khắc. Đứa bé bị ánh bạc lóe lên, mở mắt ra lần nữa, nhìn thấy một thiếu niên ăn mặc hoa lệ, dùng một thanh hoành đao cản lại đoản chủy đang rơi xuống của tùy tùng.

Trong miếu đã vào đêm, mái sụp hơn nửa, ánh trăng từ những lỗ hổng ấy chảy vào, trắng xóa trải khắp mặt đất. Tường gãy, ngói vụn, nửa đoạn lư hương đổ dưới đất, tất cả đều bị soi rõ mồn một, ngay cả pho tượng Bồ Tát cụt tay gãy chân nơi góc tường, trên mặt cũng phủ một lớp ánh trăng trắng bệch, nụ cười ấy trong đêm còn rợn người hơn ban ngày.

Hắn đứng trong mảnh ánh trăng ấy, một thân áo xanh nhạt, xanh đến lặng lẽ, như bức tường cũ mọc rêu trong bóng tối, lại như một vũng nước biếc lắng đọng bao năm. Ánh trăng rọi lên người hắn, chất liệu áo ấy lại ẩn ẩn tỏa ra một lớp sáng trầm tĩnh – vải thô tầm thường dưới ánh sáng này đã sớm thành một đám bóng c.h.ế.t khí, nhưng bộ y phục của hắn, tối thì tối, lại không giấu nổi một cỗ quý khí từ trong xương tủy thấu ra. Vải đã bị mưa thấm ướt, giờ nửa khô nửa ướt dán lên người, trái lại ép chút tốt đẹp ấy ra ngoài, một tơ một mảy đều không chỗ trốn.

Tóc dài vẫn xõa, mấy lọn dán hai bên má, mấy lọn buông bên cổ, càng tôn gương mặt trắng đến ch.ói mắt. Bên tóc thỉnh thoảng trượt xuống một giọt nước, men theo góc cạnh cằm lăn xuống, hắn cũng không buồn quản.

Một thanh hoành đao ngang trước người, lưỡi đao chặn đoản chủy đ.â.m tới, hai bên va nhau, phát ra một tiếng rất nhẹ rất giòn. Ánh trăng đúng lúc rơi lên thân đao, lay ra một đạo sáng lạnh trắng, phản chiếu nửa gương mặt hắn – mày mắt sắc bén, môi mỏng mím c.h.ặ.t. Hắn không có biểu cảm, nhưng đôi mắt ấy đỏ đến dọa người, đuôi mắt vằn tia m.á.u, như thức trắng cả đêm, lại như vừa bị thứ gì thiêu đốt dữ dội. Trong sâu đồng t.ử có gì đó đang cháy, cháy rất tĩnh, tĩnh đến mức gần như không thấy lửa, nhưng chính chút đỏ ấy, tôn cái lạnh cả gương mặt hắn lên thành một thứ không nói nổi, khiến người ta không dám nhìn thêm.

Bàn tay hắn cầm đao rất vững, xương cổ tay căng ra một sợi gân rõ rệt. Tay áo xanh nhạt trượt xuống nửa đoạn, lộ ra một đoạn cổ tay trắng bệch, xương gọt gọn gàng, giống như lưỡi đao kia, đều là lạnh.

Cả ngôi miếu, ánh trăng, ngói vụn, tường tàn, hết thảy đều làm nền cho hắn. Hắn đứng đó, rõ ràng ăn mặc thanh sạch, ướt đến chật vật, lại cứ như một bức tranh bị ai vội vàng treo lên – miếu hoang là khung, ánh trăng là khoảng trắng, mà hắn, là thứ duy nhất bất động trong tranh.

Lực lượng khổng lồ chấn tùy tùng lùi lại mấy bước, vị công t.ử thiếu niên phi thân đỡ lấy tùy tùng, che hắn vào lòng, quạt xếp mở ra, ám khí tỏa ánh bạc.

Nguyên Sênh lặng lẽ nhìn bọn họ, ngón tay cũng không ngừng run lên.

Hắn có tội. Chính hắn cũng từng nói như vậy.

Hắn chỉ đứng đó, mái tóc ướt sũng che mất biểu cảm. Vị công t.ử thiếu niên đã sớm dẫn tùy tùng rời đi, mấy gã đàn ông to xác chỉ có cơ bắp ấy cũng chạy mất.

Nguyên Sênh ném đao, ngồi lên bàn thờ ấy. Đứa bé vẫn nằm đó, không động, chỉ lặng lẽ hứng ánh trăng bạc từ ngoài cửa sổ rắc xuống.

Im lặng rất lâu. Đứa bé mở miệng: “Ta có thể đi theo ngươi không?”

Nguyên Sênh không để ý, đứa bé cảm thấy hơi bối rối. Mình là ăn mày, không có gì cả, mà đối diện rõ ràng là công t.ử nhà giàu, không ai lại muốn nhận nó.

Nhưng điều nó không ngờ là, vị công t.ử trước mắt lại mở miệng, như thật sự nghiêm túc suy nghĩ vấn đề này: “Ngươi tên gì?”

“Không có tên.”

“Ta bị người ta truy sát, phiêu bạt không nơi nương tựa, đến ăn cơm cũng thành vấn đề, ngươi thật sự bằng lòng đi theo ta?”

Đứa bé không chút do dự nói: “Bằng lòng! Ngươi đã cứu ta.”

Nguyên Sênh ngước mắt nhìn kỹ nó: “Từ nay ngươi tên là Trần Tĩnh Lâm. Theo họ ta.”

Trần Tĩnh Lâm hơi kích động, từ dưới đất bò dậy, khập khiễng đi đến trước mặt Nguyên Sênh: “Vậy ngươi tên gì? Ca ca.”

Nguyên Sênh sững lại, vấn đề này hắn chưa từng nghĩ. Bịa đại một cái đi.

“Ta tên Trần Nguyên Sinh.”

Nguyên Sênh nghe cái tên giả ấy, nhất thời thấy buồn cười. Nguyên Sinh.

Nguyên là gì? Nguyên là dáng vẻ chưa từng thay đổi, là dáng vẻ vốn nên như thế. Nhưng hắn lại cứ không phải kẻ “nguyên” ấy nữa. Nguyên Sênh mới là cái “nguyên” ấy, là tiểu đoàn t.ử trong cung từng ngồi xổm trong đình nhìn người ta, là Tam hoàng t.ử vốn nên sống trong tôn quý vàng ngọc. Mà “nguyên” bị nhét vào tên, thành một lời nhắc, cũng thành một nỗi châm biếm – hắn sống từng ngày một, lại từng ngày một rời xa cái “nguyên” ấy. Người đặt chữ “nguyên”, như sợ hắn quên, lại như sợ hắn nhớ ra.

Nguyên Sênh đem chữ “Lâm” trong tên mình tặng cho đứa em không chút m.á.u mủ này, như muốn vứt bỏ quá khứ, nhưng sao có thể quên?

4

Nguyên Sênh dẫn Trần Tĩnh Lâm, cưỡi một con ngựa. Hai người chưa từng dám vào thành, vì khắp nơi đều có lệnh truy nã Nguyên Sênh, trên đó không có gì cả, chỉ có một bức họa.

Tĩnh Lâm đặc biệt tò mò, ca ca rốt cuộc phạm tội gì, khiến cả nước truy nã. Nhưng người sáng mắt đều nhìn ra được, Nguyên Sênh không muốn nhắc chuyện này. Tĩnh Lâm rất hiểu chuyện, cũng chưa từng hỏi.

Nguyên Sênh đem toàn bộ y phục và trang sức của mình đi cầm, chỉ giữ lại một thanh đao. Trên vỏ đao khắc ngay ngắn một chữ: Lâm.

Hai người gần như ngày nào cũng gặp sát thủ truy đuổi, nhưng đám người ấy võ nghệ tầm thường, Nguyên Sênh đều có thể ứng phó. Thật ra ngày thứ hai dẫn Tĩnh Lâm, Nguyên Sênh đã hối hận, vì hắn còn không thể bảo toàn chính mình, hắn mới mười sáu tuổi, lại còn dẫn theo một đứa trẻ bảy tuổi.

Tĩnh Lâm rất ngoan. Nó sẽ chủ động giúp Nguyên Sênh cho ngựa ăn, chẻ củi, thậm chí nấu cơm.

Nguyên Sênh sớm đã không muốn sống nữa. Nhưng hắn tên là “Sinh” – sinh lộ, cầu sinh, sống tiếp. Trong chữ này không có thể diện, không có tiền đồ, không có chốn về, chỉ còn một hơi thở không chịu nuốt xuống.

Hai người bôn ba khắp nơi suốt một tháng, cuối cùng chạy vào núi lớn. Đó là một ngọn núi rất cao rất cao, Nguyên Sênh dẫn Tĩnh Lâm, lên đến lưng chừng núi, từ đó ở lại. Ở lại, chính là bảy năm.

Một kẻ bị chuyện cũ phơi bày giữa thiên hạ, vốn nên có một cuộc đời khác, vậy mà chỉ dựa vào bản năng cầu sinh thô ráp nhất, từng năm từng năm chịu đựng đến hôm nay.

Đêm Đào Mộng An đến, chính là đến để tháo cái tên “Nguyên Sinh” của hắn xuống. Nguyên Sênh mới là tên hắn. Nguyên Sênh là của cung, là quý, là thiếu niên mà Đào Mộng An đã biết suốt bảy năm, từ đêm mưa ấy. Trần Nguyên Sinh là chạy trốn, là ẩn giấu, là kẻ rút đao với người xa lạ, đem một thân thể bệnh tật gắng gượng chống thành một cái vỏ. “Trần Nguyên Sinh” là cái vỏ hắn dùng để giấu “Nguyên Sênh”. Mà Đào Mộng An đến rồi, cái vỏ này không giấu nổi nữa.

5

Câu chuyện kết thúc. Đào Mộng An vẫn lặng lẽ ngồi trên giường, nghe cậu kể mà không nói gì. Ánh mắt hắn vẫn đặt trên người đối diện, lại như xuyên qua người ấy, nhìn đến một nơi rất xa. Đôi mắt ấy vốn đã sâu, lúc này càng sâu hơn, sâu như một giếng nước không thấy đáy. Trần Tĩnh Lâm nhìn vào trong, chỉ thấy bóng mình nổi trên mặt nước; nhìn xuống nữa, lại chẳng thấy gì. Dưới đó cuộn trào điều gì, là chua xót của chuyện cũ, hay nỗi khổ của người khác, cậu không nói ra được. Cậu chỉ biết mình đang chìm xuống, lặng lẽ và không một gợn sóng.