“Những chuyện còn lại, đã không còn là điều ta cần phải bận tâm nữa rồi.”
“Thẩm cô nương."
Tô Cẩn tiễn ta ra tận bên xe ngựa, “Tiếp theo muội định tính thế nào?"
“Trở về phủ trước đã."
Ta nói, “Sau đó thu dọn hành lý, rời khỏi kinh thành."
“Rời khỏi kinh thành sao?
Muội định đi đâu?"
“Trở về Giang Nam."
Ta nói, “Cha ta ở dưới đó còn có vài mẫu ruộng nhỏ, cũng đủ cho hai cha con ta rau cháo qua ngày."
Tô Cẩn im lặng một hồi lâu, rồi từ trong ống tay áo lấy ra một bức thư trao cho ta:
“Cái này cho muội."
“Thứ gì vậy?"
“Bên Hộ Bộ ở Giang Nam đang khuyết một vị trí bên Ty Vận Muối, cha ta bảo nếu cha muội bằng lòng tới đó, ông ấy có thể giúp đỡ thu xếp."
Ta nhìn bức thư đó, không đưa tay đón lấy.
“Tại sao lại giúp ta?"
Ta hỏi.
Tô Cẩn khẽ mỉm cười:
“Bởi vì năm xưa ở Giang Nam, cha muội từng cứu mạng cha ta một lần.
Cha ta vẫn luôn ghi nhớ cái ơn ấy, chỉ là chưa có dịp để báo đáp.
Nay cha muội sức khỏe không tốt, ở lại kinh thành này cũng chẳng có lối thoát nào, xuống Giang Nam tĩnh dưỡng thân thể cũng là điều tốt."
Ta chợt nhớ ra rồi.
Mười năm trước, khi cha ta còn làm mưu sĩ ở Giang Nam, có một lần cha của Tô Cẩn đi tuần tra đường sông, thuyền bị lật, chính cha ta đã lao xuống dòng nước dữ để cứu ông ấy lên.
Sau này cha của Tô Cẩn được điều chuyển về kinh thành, cha ta cũng vào phủ thái phó, hai nhà tuy ít khi qua lại, nhưng cái ân tình năm xưa thì vẫn luôn được khắc ghi.
“ Vậy xin huynh hãy chuyển lời đa tạ của ta đến lệnh tôn."
Ta nhận lấy bức thư, “Và cũng xin đa tạ huynh."
“Không cần khách sáo."
Tô Cẩn lùi lại một bước, chắp tay, “Thẩm cô nương, chúc muội thượng lộ bình an."
Ta bước lên xe ngựa, tấm rèm che hạ xuống, thảy mọi âm thanh huyên náo bên ngoài đều bị ngăn cách.
Thanh Hòa ngồi ở phía đối diện, vành mắt đỏ hoe:
“Tiểu thư, chúng ta thật sự phải đi sao?"
“Đi chứ."
Ta nói, “Kinh thành này lạnh lẽo quá, chúng ta trở về Giang Nam thôi."
Xe ngựa bắt đầu lăn bánh.
Ta vén rèm nhìn lại phía sau một cái, Tô Cẩn vẫn đang đứng bên cổng phủ, dõi theo hướng chiếc xe ngựa của ta rời đi.
Cỗ xe ngựa của Tạ Chi Viễn đã sớm biến mất tăm hơi.
Chiếc kiệu ở bên kia đường cũng không còn thấy nữa.
Liễu Như Yên không biết đã đi đâu, có lẽ đã đi theo Tạ Chi Viễn, có lẽ đã trở về phủ An Bình Bá, cũng có lẽ đã đến một nơi nào khác rồi.
Nhưng những điều đó đều chẳng còn quan trọng nữa.
Điều quan trọng là, ta đã có thể bảo toàn bản thân, bước ra khỏi một lời nói dối được thêu dệt một cách tinh vi suốt ba năm trời.
Trở về đến phủ thái phó, cha ta đã ngồi đợi sẵn trong thư phòng từ lâu.
“Giải quyết xong xuôi rồi chứ?"
Ông hỏi.
“Xong xuôi rồi ạ."
Ta nói, “Cha, chúng ta trở về Giang Nam thôi."
Cha nhìn ta đăm đăm một hồi lâu, rồi gật đầu:
“Được."
Đến buổi tối khi đang thu dọn đồ đạc, Thanh Hòa từ dưới đáy hòm lôi ra một chiếc bọc cũ kỹ.
“Tiểu thư, đây là thứ gì vậy?
Nặng tay quá chừng."
Ta đón lấy, mở ra xem.
Bên trong là một miếng ngọc bội cùng một tờ giấy đã ngả màu vàng úa—— chính là danh mục của hồi môn do nương để lại.
Ta bỗng ngẩn người ra.
Hầm ngầm của tiệm tiền thông bảo phía nam thành.
Của hồi môn của nương ta.
Ta vốn luôn nghĩ rằng đống của hồi môn kia chẳng qua chỉ là vài rương vàng bạc châu báu, đủ để cho ta mang theo khi gả chồng cho thêm phần nở mày nở mặt với người ta mà thôi.
Thế nhưng, khi nương theo ánh nến nhìn rõ từng dòng chữ chi chít trên tờ giấy kia, đôi bàn tay ta bắt đầu run lên bần bật.
Ba khoảnh ruộng muối ở Giang Nam.
Hai ngọn núi chè ở Thục Trung.
Mười hai gian cửa tiệm ở ngay chốn kinh thành này.
Lại thêm một rương đầy văn tự đất đai, khế ước nhà cửa, rải r/ác khắp các vùng Dương Châu, Tô Châu, Hàng Châu, Kim Lăng.
Nương ta, nữ nhi của một đại thương gia buôn muối vùng Giang Nam, khi gả cho cha ta, số của hồi môn mang theo đủ để mua đứt nửa cái vùng Giang Nam này rồi.
Vậy mà những thứ này lại được gửi trong hầm ngầm của tiệm tiền thông bảo suốt mười lăm năm trời, không một ai ngó ngàng tới.
Ngày mùng chín tháng Giêng, trời còn chưa hửng sáng, ta đã đứng trước cửa tiệm tiền thông bảo.
Vị chưởng quầy xem xét kỹ lưỡng miếng ngọc bội và hôn thư, lại đối chiếu với nét chữ của nương ta xong xuôi, mới đích thân dẫn ta xuống hầm ngầm.
Căn hầm ngầm vô cùng rộng lớn, bên trong xếp đặt ngăn nắp hơn ba mươi chiếc rương lớn nhỏ.
Ta mở chiếc rương đầu tiên ra, bên trong toàn là những thỏi vàng ròng sáng loáng.
Chiếc thứ hai, toàn là thỏi bạc trắng phau.
Chiếc thứ ba, đầy ắp trâm anh châu báu.
Chiếc thứ tư, tất thảy đều là văn tự đất đai và khế ước nhà cửa.
Ta lần lượt xem qua từng chiếc một, đôi bàn tay càng lúc càng run rẩy dữ dội hơn.
Không phải vì xúc động, mà là vì căm phẫn.
Nương để lại cho ta nhiều của cải đến nhường này, dư sức cho ta sống một đời nhung lụa, vinh hoa phú quý, vậy mà cha ta chưa từng tiêu tốn lấy một đồng một cắc nào từ trong đó.
Không phải vì ông không muốn tiêu, mà là vì thái phó không cho ông tiêu.
Năm xưa khi cha ta vào kinh đầu quân cho thái phó, đã đem toàn bộ gia sản giao cho thái phó trông coi, bao gồm cả số của hồi môn này của nương ta.
Thái phó khi đó đã bảo:
“Những thứ này ngươi cứ tạm gửi ở chỗ ta, đợi đến ngày nữ nhi của ngươi xuất giá, ta sẽ trao trả lại cho nó."
Cha ta đã tin lời.
Thế nhưng cái sự chờ đợi ấy, lại kéo dài ròng rã suốt mười lăm năm trời.
Mười mán năm qua, cha ta từ một vị tài t.ử vùng Giang Nam đầy hoài bão, biến thành một nghĩa t.ử chỉ biết khép nép, vâng vâng dạ dạ trong phủ thái phó.
Mười lăm năm qua, ta từ một đứa trẻ lên ba, trưởng thành một thiếu nữ mười tám tuổi đầu.
Mười lăm năm qua, số của hồi môn kia cứ lặng lẽ nằm im lìm trong căn hầm ngầm này, bị thái phó đem đi cầm cố, xoay vòng, đầu tư sinh lời, kiếm chác được bao nhiêu tiền của, chẳng một ai hay biết.
Còn số của hồi môn mà thái phó hứa hẹn sẽ “trao trả" cho ta, thực chất vốn dĩ có bao giờ thuộc về ông ta đâu.
Đó là của nương ta kia mà.
Là thứ mà nương để lại cho ta kia mà.
Thái phó chẳng qua chỉ là kẻ trông coi hộ, chứ đâu phải là chủ nhân của chúng.