Chén trà thiếp thất dâng lên là Long Tỉnh trước mưa.
Tang Ninh quỳ trên bồ đoàn, hai tay nâng chén trà quá đỉnh đầu. Bụng nàng đã nhô lên, chắc tầm bốn tháng hơn.
"Phu nhân mời dùng trà."
Giọng nàng mềm mại, đầu cúi thật thấp.
Hạ Tri Bạch đứng bên cạnh, một tay đỡ hờ sau eo nàng.
"Kim Kim." Hắn gọi ta.
"Nàng ấy là cô nữ ân sư để lại, lại mang cốt nhục của ta, ta không thể mặc kệ. Nàng yên tâm, chính thê trong phủ này mãi mãi chỉ có một mình nàng."
Mẹ chồng ngồi ở ghế trên lần tràng hạt, mí mắt cũng lười nhấc.
"Đàn ông tam thê tứ thiếp là chuyện thường tình. Ngươi mà ngăn cản, truyền ra ngoài lại mang tiếng xấu."
Hạ nhân đầy tớ trong phòng đều nín thở chờ đợi.
Chờ ta khóc lóc, chờ ta ầm ĩ, chờ ta hất thẳng chén trà vào mặt Hạ Tri Bạch.
Ta đứng dậy, vuốt nhẹ ống tay áo, hai tay nhận lấy chén trà rồi nhấp một ngụm. Lại cởi chiếc vòng ngọc mỡ cừu trên cổ tay, đích thân đeo cho Tang Ninh.
"Muội muội thân thể nặng nề, sau này cứ miễn quy củ thỉnh an sớm tối đi."
Hạ Tri Bạch rõ ràng thở phào nhẹ nhõm.
"Kim Kim, đa tạ nàng."
Tang Ninh quỳ dưới đất ngẩng mặt nhìn ta, đắc ý trong ánh mắt giấu chẳng xong. Nàng chắc mẩm mình đã thắng. Ngày đầu vào cửa, chính thê đích thân nhận trà, đích thân ban thưởng, hạ nhân cả phủ đều nhìn thấy. Về sau còn kẻ nào dám coi khinh nàng.
Tràng hạt trong tay mẹ chồng khựng lại, bà liếc nhìn ta thêm mấy bận. Có lẽ bà cũng lấy làm lạ, sao hôm nay ta lại dễ bề xuôi thuận, có chút khác thường như thế.
Khác thường là phải. Con người chỉ khi không còn bận lòng, mới có thể rộng rãi bao dung nhất.
Ta về chỗ ngồi ngay ngắn, sai hạ nhân dọn thức ăn. Một bữa cơm êm đềm trọn vẹn.
Lúc tàn tiệc, Hạ Tri Bạch tiễn ta ra hành lang, ra chiều muốn nói lại thôi.
"Nàng quả thật không giận sao?"
Ta giơ tay vuốt lại cổ áo giúp hắn.
"Phu quân là người trọng tình trọng nghĩa, ta có gì mà giận chứ."
Hắn nhìn ta chằm chằm một lúc lâu, rồi bật cười.
"Cưới được nàng, là phúc khí của ta."
Hắn xoay người bước về phía viện của Tang Ninh. Ta đứng dưới hiên đưa mắt nhìn theo. Bước chân hắn nhẹ tênh, bóng lưng toát lên vẻ trút được gánh nặng.
Ta chợt nhớ lại bốn năm trước, hắn cũng cất bước rời khỏi viện của nhà ta như thế. Dạo ấy ngài đến cầu thân, cha ta hỏi, con gái Sầm gia không chung chồng với kẻ khác, ngài làm được chăng.
Hắn đáp, làm được. Lúc nói lời này, ngọn đèn nơi tâm can hắn sáng rực ch/ói mắt.
…….
Từ nhỏ ta đã nhìn thấy những thứ mà người thường không thấy được. Tâm can mỗi người đều treo lơ lửng một ngọn đèn.
Ngọn lửa màu vàng rực, chứng tỏ kẻ đó lòng dạ ngay thẳng. Nếu pha chút sắc xám, nghĩa là lòng ôm tư niệm. Sắc xám càng đậm, tư niệm giấu càng sâu.
Năm ta lên năm tuổi, một môn sinh mà cha ta ưng ý nhất đến nhà thăm hỏi, xách theo hai hộp điểm tâm, mở miệng ra là ân sư. Kẻ đó nói lời ngọt hơn mật, nhưng ngọn đèn trong tâm can lại đen như đáy nồi. Ta kéo tay áo cha bảo người này rất xấu. Cha chỉ coi như trẻ con nói bừa.
Ba tháng sau, kẻ đó dâng một tấu chương, hạch tội cha ta tự ý sửa đổi lịch thư, mê hoặc thánh thính. Sầm gia suýt nữa thì mang tội chu di. Cha bị lột mũ quan, ngồi ngục nửa năm, lúc ra ngoài ốm liệt giường một trận.
Từ đó về sau, ta không nhìn mặt người, chỉ nhìn đèn.
Đến tuổi nghị thân, bà mối đạp bằng ngưỡng cửa. Ngọn đèn của công t/ử phủ Thượng thư vương sự tham lam, đèn của thế t/ử Hầu phủ lại vương sắc d/ụ/c. Nực cười nhất là Tân khoa Thám hoa, trong đèn chứa cả một nấc thang mây xanh, nhưng trên thang mây ấy lại chẳng có bóng dáng ta.
Chỉ có Hạ Tri Bạch là khác biệt. Hắn là thiếu niên tướng quân từ Bắc cảnh đ/á/n/h trận trở về, lúc bước vào nhà ta mang theo đầy gió sương, điệu bộ lúng túng đến mức bưng chén trà cũng không vững. Ta ngẩng đầu nhìn vào tâm can hắn. Một ngọn đèn vàng rực rỡ, vô cùng sạch sẽ.
Thế là ta gả cho hắn.
Hai năm đầu thành thân, hắn đối xử với ta vô cùng tốt. Bắc cảnh giá rét khổ cực, mỗi tháng hắn đều gửi một phong gia thư, cuối thư luôn vẽ một ngọn đèn nhỏ. Hắn nói, Sầm Kim, nhìn thấy đèn, hãy coi như ta đã về nhà.
Đêm tuyết rơi tầm tã lúc ta m/a/n/g t/h/a/i đứa bé đầu lòng, hắn cưỡi ngựa chạy ròng rã ba trăm dặm, khi bước qua cửa đôi hài gấm vẫn còn rỏ nước. Đứa bé không giữ được. Hắn túc trực bên giường ta suốt bảy ngày, ai khuyên cũng chẳng chịu đi. Lúc ấy ngọn đèn của hắn sáng rực rỡ, ta tựa vào hắn, cứ ngỡ cả đời này phó thác nơi hắn là đủ rồi.
Bốn năm trời, hắn ra ngoài nhậm chức, ta ở lại giữ nhà. Mỗi năm hắn về hai bận, lần nào ngọn đèn cũng sáng trong.
Mãi cho đến ba tháng trước, hắn dẫn quân từ Bắc cảnh trở về, mang theo cả Tang Ninh. Đêm ấy hắn ngủ lại thư phòng, ta bưng canh an thần đến cho hắn, cách lớp tay áo liếc nhìn hắn một cái.
Dưới ngọn lửa đèn, một vệt xám len lỏi lan ra. Giống như một giọt mực rơi vào chậu nước trong. Ta bưng bát canh đứng lặng hồi lâu.
Bốn năm rồi, lần đầu tiên ta không nhìn thấu được hắn.
Sau này hắn nói với ta, đêm mùng bảy tháng ba, hắn bận bàn việc quân trong doanh trướng. Nhưng ta nhận ra, ngày mà ngọn đèn kia bắt đầu vương sắc xám, chính là mùng bảy tháng ba.