Đôi mắt thường ngày tĩnh lặng như giếng sâu, lúc này lại cuộn đầy sóng nước.
Ánh đèn phủ lên gương mặt chàng lúc sáng lúc tối.
Mày đậm, mắt sâu, sống mũi cao, môi mỏng mím c.h.ặ.t vì tức giận.
Trông chàng lúc này trái lại giống người còn rất nhiều sức sống.
“Ta đã nói không cần.” Chàng c.ắ.n răng. “Nàng nghe không hiểu sao?”
“Thẩm Tri Hạc.” Ta nhẹ giọng gọi. “Sao mặt chàng đỏ vậy?”
Đồng t.ử chàng co lại trong thoáng chốc.
Giống như bị chạm vào nơi không nên chạm, chàng lập tức buông tay, quay mặt sang bên không nhìn ta nữa.
Đường cằm chàng căng như dây cung kéo hết cỡ, gương mặt nghiêng dưới ánh đèn vừa lạnh vừa cứng.
Ta cúi đầu vò khăn.
Thật ra tim ta cũng đập loạn chẳng kém gì chàng.
Nhưng ta vẫn không chịu tỏ vẻ yếu thế, lại giặt khăn trong chậu thêm một lần.
“Vẫn còn chưa lau xong, chàng vội cái gì?”
Chàng quay lại trừng ta.
Ánh mắt ấy rõ ràng tức đến mức muốn đuổi ta đi, nhưng lại chẳng thể thật sự làm gì.
Bị chàng nhìn đến hơi chột dạ, trong lòng ta lại yên ổn hơn.
Biết tức giận, biết xấu hổ, biết khó chịu.
Vậy là chàng vẫn còn muốn sống.
“Chân còn chưa lau.” Ta nói.
Ánh mắt chàng lập tức thay đổi.
Mọi vẻ quẫn bách vì chuyện vừa rồi biến mất trong chớp mắt.
Thay vào đó là phòng bị rất sâu, cùng sự kháng cự giống như tự mình che đi vết thương chẳng muốn ai nhìn thấy.
“Không cần.”
Xem đi.
Con ốc vừa thò đầu ra một chút, lại lập tức chui vào vỏ.
Ta vắt khăn lên thành chậu, đi đến cuối giường, cúi người định vén chăn.
Chàng lập tức giữ c.h.ặ.t mép chăn lại.
“Ta nói không cần.”
Giọng chàng không lớn, nhưng lạnh và cứng như lưỡi đao đặt ngang trước cửa.
Ta nhìn bàn tay chàng.
Khớp xương nổi rõ, gân xanh hiện mờ dưới da.
Chàng đè tấm chăn thật c.h.ặ.t, giống như đang giữ lấy phần tôn nghiêm cuối cùng không cho ai xâm phạm.
Ta ngồi xổm xuống, nhìn thẳng vào chàng.
“Thẩm Tri Hạc.” Ta hạ giọng thật mềm. “Chúng ta đã là phu thê. Chân chàng bị thương ra sao, ít nhất cũng phải để ta biết. Nếu không biết rõ, ta làm sao chăm sóc cho chàng?”
Chàng không nói, môi mím thành một đường mỏng.
“Vậy thế này đi.” Ta suy nghĩ rồi nói. “Chàng tự làm, ta không nhìn.”
Chàng im lặng rất lâu.
Ngay lúc ta tưởng chàng sẽ dùng im lặng chống lại đến cùng, bàn tay chàng rốt cuộc chậm rãi buông khỏi mép chăn.
Chàng chống tay lên giường, khó nhọc dịch người, rồi cúi xuống tự cuộn ống quần lên.
Động tác ấy chậm và vất vả hơn ta tưởng.
Mỗi lần kéo lên được một đoạn, chàng đều phải dừng lại thở, mồ hôi mịn thấm đầy trán.
Ta đứng bên cạnh, không đưa tay giúp.
Lúc này, một chút tự tôn ấy còn quan trọng hơn mọi sự chu đáo.
Ống quần cuối cùng được cuộn đến đầu gối.
Ta nhìn rõ thương thế của chàng.
Xương bánh chè không lệch, cũng không có vết sẹo dữ tợn do ngoại thương sâu để lại.
Thoạt nhìn, đôi đầu gối ấy thậm chí gần như bình thường.
Chỉ có phần cơ quanh đầu gối đã teo nhỏ hơn so với phần đùi, da thịt mềm nhão, trắng bệch vì lâu ngày không vận động.
Không giống thương tổn ở xương.
Ta ngồi xuống thấp hơn, cố nhớ lại từng dòng ghi trong y thư của nương về thương tích gân mạch.
Nếu xương vỡ, đầu gối chắc chắn sẽ biến dạng, sưng tấy, thậm chí có thể lồi ra những chỗ bất thường.
Nhưng đầu gối chàng không như vậy.
Vậy vết thương không nằm ở xương.
Không phải xương, thì rất có thể là gân.
Quanh đầu gối vốn có những đường gân quan trọng nối liền đùi và bắp chân, giúp người ta co duỗi, đi lại, đứng lên.
Nếu khi chịu hình, những đường gân ấy bị kéo căng, bị rách, hoặc bị dùng thủ đoạn khiến mất đi độ đàn hồi, thì dù xương vẫn nguyên vẹn, người cũng khó lòng đứng dậy.
Trong đại lao Hình bộ có một loại hình phạt chuyên dùng để ép cung, dùng dây thừng siết sâu vào khoeo chân, đau đến mức sống chẳng bằng c.h.ế.t.
“Đầu gối chàng từng bị dây thừng siết qua đúng không?”
Chàng ngẩng đầu nhìn ta, đáy mắt lộ vẻ kinh ngạc.
“Thương ở gân vẫn còn dễ xoay xở hơn thương ở xương. Nếu chăm sóc đúng cách, chưa chắc đã không thể hồi phục.”
Bàn tay đang đưa ra nhận chén của chàng khựng lại giữa không trung.
Chàng ngước nhìn ta, trong mắt có quá nhiều cảm xúc rối vào nhau.
“Nàng không cần nói vậy để dỗ ta.”
“Ta dỗ chàng làm gì?” Ta nhìn chàng. “Ta rất thực tế. Chữa khỏi chàng cũng là vì chính mình. Chẳng lẽ ta phải chẻ củi, nấu cơm, nuôi chàng cả đời sao?”
Chàng không đáp.
Chàng chỉ lặng lẽ nhìn ta.
Ta cười với chàng, bưng chậu nước đi ra ngoài, miệng lẩm bẩm nước đã nguội rồi, phải đun thêm một nồi khác.
Ra đến hành lang, gió đêm thổi vào mặt, ta mới nhận ra cả người mình nóng bừng.
Ta đứng dưới mái hiên, ngẩng đầu nhìn vầng trăng khuyết lạnh trên trời, áp mu bàn tay lên má, hít một hơi thật sâu, mãi mới ép được nhịp tim hỗn loạn trở lại bình thường.
Đến ngày tam triều hồi môn, trời còn tối mờ ta đã tỉnh.
Ta nằm trên chiếc giường gỗ cứng ở đông sương phòng, ngước nhìn xà nhà, lặng người thật lâu.
Có nên về hay không?
Đối với ta, Hầu phủ chẳng còn gì đáng nhớ.
Ngoại trừ bài vị của di nương.
Tấm bài vị ấy giống một sợi chỉ mảnh buộc vào lòng ta.
Dù ta đi đến đâu, nó vẫn âm thầm kéo ta quay đầu.
Nếu ta không về, sau này còn ai thắp cho người một nén hương?
Ta đứng dậy mặc áo, xuống bếp nấu cháo, rồi đặt bát cháo bên giường Thẩm Tri Hạc.
Chàng vẫn đang ngủ, nằm nghiêng quay mặt vào trong.
Tấm chăn mỏng phủ đến vai, chỉ lộ ra mái tóc đen tản trên gối.