Thiếu gia quay lại bếp, có chút ngập ngừng hỏi ta:
“Tiểu Vũ, muội… có đi không?”
Ta từ sau bếp ngẩng đầu lên, đáp:
“Muội không đi, các huynh đi đi rồi về sớm, muội còn phải giúp tổ mẫu.”
Hắn chỉ khe khẽ “ồ” một tiếng, chậm chạp bước ra cửa. Ta nghĩ nghĩ, tạm ngưng nhặt lá cải thảo, moi củ khoai lang giấu trong tro ra, thổi sạch lớp tro rơm bên ngoài.
Khoai lang đúng là đồ tốt. Tổ phụ bảo: “Đây là giống do Phạm Đại nhân – người chuyên trông coi việc trồng trọt trong triều – sai người mang đi khắp nơi trồng. Dây có thể nuôi heo nuôi gà, củ ăn sống thì ngọt, hấp, nướng, chiên, xào đều ngon. Đến lúc không có gì ăn, bứt lá non xào cũng dễ ăn hơn cỏ dại. Năng suất cao, năm mất mùa cứu không biết bao nhiêu mạng. Người mà có thiên phú với đất đai, cây cỏ mà chịu khó vun trồng, thì cũng có thể như Phạm Đại nhân, đem lại lợi lộc cho bá tánh.”
Đang mải nghĩ ngợi miên man, ta đuổi theo thiếu gia, dúi củ khoai vào tay hắn, dặn hắn chút nữa nhớ chia cho tiểu thư một củ. Thiếu gia mím môi, mắt dán vào ta, như thể qua đôi mắt ấy ta thấy rõ nỗi thấp thỏm của hắn. Ta an ủi:
“Đừng sợ, thiếu gia. Cô cô muội là chủ trong nhà, không ai dám làm khó các người đâu.”
Thấy hắn chạy theo kịp tổ phụ, ta mới yên tâm quay lại.
Trời sắp sụp tối, cơm nước vừa dọn lên thì cửa viện mở ra. Tiểu thư là người đầu tiên xông vào nhà, vừa reo “Thơm quá đói quá!” vừa lắc cái trống bỏi trên tay. Thiếu gia theo sau, tay cầm đèn thỏ con, tổ phụ cười móm mém đi vào khép cửa.
Chương ma ma đỡ áo choàng của thiếu gia và tiểu thư, cười hỏi hai món đồ chơi ấy từ đâu ra. Chưa kịp để tổ phụ trả lời, tiểu thư đã cướp lời:
“Trống bỏi với mấy hòn ‘gà-la-ha’ là A Bố – cháu nội ông Lưu – cho con đó!”
Nói rồi còn móc ra mấy cái “gà-la-ha” làm từ xương đầu heo – là trò chơi hiếm hoi của lũ trẻ tụi ta hồi bé.
Tiểu thư nâng mấy viên xương như của báu, khoe khắp một lượt, rồi đứng cạnh thiếu gia, lớn giọng bảo:
“Của con là A Bố tặng con! Còn của ca ca…”
Nàng cố tình kéo dài giọng:
“Là tổ mẫu A Bố giành cho huynh ấy đó! A Bố khóc quá trời, con phải hứa dạy hắn viết chữ mới chịu nín!”
15
Đi qua muôn trùng núi non, ngày tháng lại lật sang một năm mới.
Dẫm lên lớp tuyết dày trong sân, nhìn ra xa là rừng núi, gần là nhà cửa, tất cả đều bị tuyết phủ trắng xoá. Giàu hay nghèo, vui hay buồn, tất thảy đều bị tuyết làm cho trở nên giống nhau. Chỉ có những chiếc cột đèn l.ồ.ng cao v.út trước sân từng nhà trong thôn là còn giữ lại chút sắc màu giữa thế gian trắng xoá ấy.
Ngước nhìn những chiếc đèn l.ồ.ng đung đưa giữa biển tuyết, ta khẽ thở dài một hơi. Cuối cùng cũng đã đến Tết. Tết qua rồi sẽ là năm mới. Tuyết tan, nỗi buồn của năm cũ, sự không cam lòng, lạc lối, sợ hãi… rồi sẽ theo cỏ đ.â.m chồi, theo cây nảy lộc, bị gió xuân cuốn đi. Trong năm mới, con người chắc cũng sẽ được tái sinh thôi.
Sau bữa cơm, mọi người quây quần chúc Tết, nói những lời may mắn. Ai nấy tụ lại trên giường đất, kể những chuyện xưa chuyện nay, chờ thời khắc giao thừa.
Phu nhân, Chương ma ma và tổ phụ mỗi người làm một chiếc mũ, tổ mẫu nâng niu chiếc có thêu hoa văn phúc thọ, xoay tới xoay lui xem mãi, miệng trầm trồ:
“Phu nhân xã trưởng… à không, cả bà chủ của t.ửu lâu Xuân Phong trên thành cũng chưa chắc có mũ đẹp bằng của lão bà này.”
Thiếu gia nói lần này gặp nạn gấp rút, chẳng có gì để báo hiếu, liền kéo tiểu thư quỳ xuống dập đầu ba cái với tổ phụ, tổ mẫu, phu nhân và Chương ma ma. Xong xuôi lại ngồi lên giường đất, lấy ra một cuốn sổ nhỏ đưa cho tiểu thư:
“A Miên, năm nay ca không có tiền mua lễ vật cho muội. Muội thông minh, nhưng nơi này không có trường học. Trong này là vài bài khai tâm cổ điển, do mẫu thân đọc, ca chép lại.”
Tiểu thư vui vẻ đón lấy, ôm Tiểu Hoàng nói:
“Tiểu Hoàng Tiểu Hoàng, từ nay cùng ta học chữ. Ta làm nữ trạng nguyên, ngươi làm trạng nguyên cẩu!”
Trong nhà tràn ngập tiếng cười, ngoài sân pháo nổ râm ran. Ăn bánh chẻo xong, ta vào bếp lấy mấy quả hồng đông lạnh và lê đá đã để tan. Nhìn cái chum lớn đựng thức ăn dưới bếp đã vơi đi quá nửa, ta thở dài, lòng chợt lo lắng:
“Hết Tết rồi, phải nghĩ xem làm gì để nuôi nổi cái nhà này đây…”
Đang tính toán xem có việc gì làm được, vừa quay người đã va phải thiếu gia. Va mạnh đến nỗi hắn lảo đảo lùi lại, ta vội vàng đỡ lấy:
“Thiếu gia, sao huynh lại ở đây?”
Hắn ôm n.g.ự.c đứng vững, rồi lấy từ tay sưởi ra một chiếc ngọc bội khắc rồng đen nạm ngọc, nhét vào tay ta:
“Tiểu Vũ, chúc muội đầu xuân vui vẻ.”
Nói rồi quay người bước nhanh đi. Ta cũng lặng lẽ đi theo sau.
Cắn một miếng lê đông đã mềm, hút một ngụm, vị ngọt mát lạnh lan khắp từ đầu đến chân khiến ta tỉnh táo hẳn.
Lúc này ta mới nghĩ thông suốt:
“Mùa xuân chưa đến, sau Tết ta sẽ sang nhà cô cô học làm đậu phụ.”
16
Sau Tết, ta liền đến tìm cô cô, nói chuyện muốn học làm đậu phụ, cô cô sảng khoái đáp ứng ngay.
Mỗi ngày, ta theo sát phía sau cô trượng, từ lúc trời vừa hửng sáng, đã đem đậu nành ngâm từ đêm hôm trước cùng nước xay nhuyễn bằng cối đá, sau đó lọc qua vải thô hai ba lượt, đổ vào nồi lớn đun sôi. Đến công đoạn cho nước kết đậu — một bước vô cùng quan trọng, cần sự tinh tế — đều do cô cô đích thân ra tay. Cô cô vừa chậm rãi thêm nước kết vào, vừa dùng muỗng cán dài khuấy đều theo một chiều. Đợi đến khi trong nồi nổi lên từng đốm tào phớ nhỏ như hạt mè, mới dừng tay. Đậy nắp nồi lại, chờ nửa canh giờ, sau đó múc phần đã kết tủa vào túi vải, nhẹ nhàng lắc đều, chắt bỏ bớt nước, rồi đặt túi vải vào khuôn gỗ dài hình chữ nhật, đè lên bằng tấm ván và đá. Còn lại, đành giao cho thời gian.
Cô cô giữ ta lại dùng bữa trưa, nhưng ta từ chối, chỉ xách phần tào phớ vừa vớt mang về nhà.
Lúc ta ra cửa khi trời còn tờ mờ sáng, thiếu gia vẫn quấn chăn, nằm bò bên mép giường đất trong gian nhà nhỏ, còn gọi theo:
“Tiểu Vũ, hôm nay muội có thể về sớm một chút không?”
Trời bắt đầu ấm lại, tuyết tan dần. Dân làng cũng rục rịch ra ngoài sau những ngày đông co ro trong nhà. Chỉ nửa ngày thôi, chuyện nhà cô cô có người làm đậu phụ, và việc nhà ta có hai “tiểu mỹ nhân” liền lan ra khắp làng, còn nhanh hơn cả gió xuân.