Chưởng quầy Trần chắn trước mặt ta: “Hầu đại nhân, xin dừng bước.”
“Ngươi cũng dám cản ta?”
“Từ hôm nay, ngài không còn quyền bước vào phòng sổ phía sau.”
Hầu Cảnh Hành cuối cùng không nhịn được nữa: “Đường Sơ Ảnh, ta là phu quân của nàng!”
Ta lấy một tờ giấy từ trong hòm sắt ra: “Đây là khế chuyển nhượng giả do chàng làm.”
Trên giấy viết ta tự nguyện chuyển Tam Giang lương hành cho Hầu Cảnh Thụy. Chỗ ký tên là tên ta, nhưng ba chữ ấy hoàn toàn khác nét b.út thật của ta. Bên cạnh còn đóng một con dấu mờ nhòe.
Ta đóng con dấu Đông gia của mình lên một tờ giấy khác, đặt hai dấu cạnh nhau. Kích thước, chỗ khuyết, tất cả đều khác biệt.
“Chàng cầm khế chuyển nhượng giả, đem lương hành của ta đến tiền trang thế chấp. Quản sự tiền trang đã giao bản gốc cho Kinh Triệu phủ.”
Tay Hầu Cảnh Hành khựng giữa không trung: “Không phải ta.”
“Vậy chàng giải thích xem, tại sao trên khế thư lại có tư ấn của chàng?”
Hắn không thể trả lời.
Ngoài cửa vang lên giọng ông chủ sòng bạc: “Hầu Cảnh Thụy nợ ta tám nghìn sáu trăm lượng, bao giờ trả?”
Ông ta dẫn theo mấy người bước vào, đập giấy nợ lên quầy. Hầu Cảnh Thụy lập tức nhào tới: “Đó là ca ta đã đồng ý trả thay!”
Ông chủ sòng bạc nhìn ta: “Đường Đông gia, Hầu gia chẳng phải có Tam Giang lương hành sao? Lấy lương hành cầm cho ta là được.”
Ta đẩy giấy nợ trở lại: “Đây là nợ c.ờ b.ạ.c riêng của Hầu Cảnh Thụy, không liên quan đến thương hiệu Đường gia. Ngươi muốn đòi thì đi tìm chính hắn.”
“Nhưng mẫu thân hắn đã điểm chỉ lên đây.”
“Bà ấy điểm chỉ lên một tờ giấy trắng, không phải khế thư của ta.”
Thôi quan Lương đang ở ngoài cửa, nghe thấy câu này liền bước vào: “Giấy trắng cùng tư ấn mà dám làm giả khế thư, chuyện này đã không còn là chuyện nhà bình thường nữa.”
Hầu Cảnh Thụy xoay người định chạy, bị hai sai dịch đè xuống đất.
Hầu Cảnh Hành đứng giữa lương hành, quan bào xanh trên người bị gió thổi nhăn nhúm. Trước kia mỗi lần hắn đến, chưởng quầy đều phải ra tận cửa nghênh đón. Hôm nay tất cả mọi người đều nhìn hắn, không một ai cúi đầu.
Ta cất sổ vào hòm sắt: “Ngày mai Kinh Triệu phủ gặp.”
“Sơ Ảnh, nàng nhất định phải làm đến cùng sao?”
“Đây là các người dạy ta.”
Ngày Kinh Triệu phủ mở công đường, có không ít người đến xem náo nhiệt.
Có thân thích từng đến biếu lễ mẹ chồng, cũng có hàng xóm sống gần đó. Ban đầu, ai cũng cho rằng con dâu giữ c.h.ặ.t của hồi môn không chịu giao là không biết điều. Nhưng khi từng chồng sổ sách được khiêng vào công đường, ngay cả vị tộc lão vốn thích bênh vực Hầu gia nhất cũng im lặng.
Thôi quan Lương hỏi Hầu Cảnh Hành trước: “Của hồi môn của Đường thị, trong hôn thư có ghi rõ thuộc sở hữu riêng của nàng hay không?”
Hầu Cảnh Hành cúi đầu: “Trong hôn thư quả thực có câu ấy. Nhưng vợ chồng vốn là một thể, Đường thị đã gả vào Hầu gia thì không nên phân biệt của nàng hay của ta.”
“Vậy tại sao ngươi tự tiện đem cửa hiệu của nàng đi cầm?”
“Chỉ là xoay vòng vốn.”
“Xoay vòng vốn có được nàng đồng ý không?”
Hầu Cảnh Hành không trả lời.
Ta đưa lên một phong thư. Đó là thư hắn viết cho tiểu thư Mạnh gia, Mạnh Như Nguyệt. Trong thư viết rõ: “Đợi ta lấy được trang trại và cửa hiệu của Đường thị, ta sẽ hủy hôn ước cũ, rồi cưới nàng. Đường thị không con, không chỗ nương tựa nhà mẹ đẻ, tuyệt đối không chống đỡ nổi quá ba ngày.”
Phụ thân Mạnh Như Nguyệt được truyền lên công đường. Ông đọc xong, sắc mặt tái xanh: “Hầu đại nhân, lúc trước ngươi nói Đường thị đã đồng ý chuyển nhượng lương hành, lão phu mới bằng lòng gả nữ nhi cho ngươi. Nay ngươi không lấy được cửa hiệu, Mạnh gia sẽ không nhận cuộc hôn nhân này nữa.”
Hầu Cảnh Hành nghiến răng: “Đó chỉ là thư riêng, không thể làm chứng cứ.”
Thôi quan Lương hỏi: “Chữ trong thư có phải của ngươi không?”
“Là của ta.”
“Chữ ký có phải của ngươi không?”
“Là của ta.”
“Vậy là đủ.”
Người tiếp theo được truyền lên là Tôn ma ma.
Khi bị áp giải vào công đường, bà ta đã chẳng còn vẻ thể diện như trước. Bà quỳ dưới sảnh, giọng run rẩy: “Gói thạch tín kia là lão phu nhân bảo ta bỏ vào hộp trang điểm của Đường thị.”
Hầu Cảnh Hành đột ngột ngẩng đầu: “Ngươi nói bậy!”
Tôn ma ma khóc: “Lão phu nhân nói, chỉ cần Đường thị ký phóng thê thư thì mọi chuyện sẽ xong. Cây trâm ngọc kia cũng là ta lấy từ dưới gối lão phu nhân, nhét vào hòm của Đường thị.”
“Ai bảo ngươi làm?”
“Lão gia.”
Hai chữ rơi xuống, công đường im phăng phắc.
Hầu Cảnh Hành hung hăng nhìn bà: “Ngươi nhận bao nhiêu bạc của Đường thị?”
“Ta không nhận một văn nào.” Tôn ma ma lấy từ trong tay áo ra một tờ khẩu cung có dấu tay. “Đây là thứ lão phu nhân viết cho ta. Bà nói sau khi việc thành sẽ cho ta một trăm lượng, để ta về quê dưỡng già.”
Mẹ chồng đã c.h.ế.t. Nhưng từng chữ bà để lại đều đang thay ta lên tiếng.
Người cuối cùng được truyền lên là Phương đại phu.
Thôi quan Lương hỏi: “Trong canh sâm có thạch tín không?”
Phương đại phu quỳ đáp: “Trong bã t.h.u.ố.c quả thực có.”
“Thạch tín từ đâu mà có?”
Phương đại phu liếc Hầu Cảnh Hành một cái, cúi đầu: “Là Hầu đại nhân đưa cho ta.”
“Ngươi ngậm m.á.u phun người!”
“Hầu đại nhân nói, chỉ cần ta chứng minh Đường thị hạ độc, ngài ấy sẽ cho ta ba trăm lượng bạc.”
Thôi quan Lương đập mạnh kinh đường mộc: “Hầu Cảnh Hành, ngươi còn lời gì để nói?”
Hắn nhìn ta, giọng tràn đầy mệt mỏi: “Sơ Ảnh, mẫu thân cũng đã c.h.ế.t rồi, nàng cần gì phải truy cứu nữa?”
Ta nhìn hắn: “Bà ấy c.h.ế.t rồi không có nghĩa những việc bà ấy từng làm cũng có thể biến mất.”
“Bà ấy là mẹ chồng của nàng.”
“Bà ấy là mẹ chồng ta, không phải chủ nhân của ta.”
“Nàng từng gọi bà ấy là mẫu thân.”
“Ta gọi bà ấy là mẫu thân mười năm, vậy mà bà ấy ghi từng miếng cơm ta ăn vào sổ.” Ta đặt cuốn sổ cũ lên án. “Nếu bà ấy thích tính toán đến vậy, vậy xin đại nhân xem thử suốt những năm qua rốt cuộc là ai nuôi ai.”
Phòng sổ đối chiếu suốt ba ngày.