Người Đại Tề muốn đ.á.n.h phủ đầu, còn kỵ binh Bắc Nhu liên tục tiến sát biên giới khiêu khích.
Tối đó, cha hỏi ta:
"Con có sợ chiến tranh không?"
Ta nhìn ánh lửa ngoài doanh trại rồi đáp:
"Con không sợ, chỉ không muốn dùng sinh mạng binh sĩ đổi lấy một trận thắng vốn có thể tránh được."
Sau khi xem lại điều kiện hai bên, ta cùng Liễu Như Yên nhận ra gốc rễ xung đột không chỉ nằm ở bản đồ giả.
Mùa đông năm ấy đến sớm, đồng cỏ phía Bắc mất mùa, hàng vạn gia súc Bắc Nhu có nguy cơ c.h.ế.t rét.
Nếu không mở được đường trao đổi lương thực, họ rất có thể sẽ cướp bóc phía Nam để sinh tồn.
Đại Tề lại cần chiến mã, gia súc và muối hồ từ thảo nguyên.
Ta đề nghị mở ba phiên trợ biên giới mỗi năm, cho phép đổi lương thực, vải vóc lấy ngựa và gia súc.
Đổi lại, Bắc Nhu phải rút quân khỏi Hắc Thủy, giao những kẻ nhận bản đồ giả và bồi thường nếu có bộ lạc tự ý vượt biên.
Cố Tương Dục bổ sung:
"Thuế thu được sẽ lập thành quỹ chung, dùng bồi thường cho bách tính mỗi khi xảy ra tranh chấp."
Hách Liên Sóc thừa nhận trợ biên giới có lợi, song nhất quyết không giao người vì cho rằng như vậy là cúi đầu trước Đại Tề.
Ta đổi cách đề nghị:
"Hai bên cùng lập hội thẩm tại Nhạn Môn."
"Những kẻ liên quan sẽ bị xét xử vì thông đồng gây chiến, không phải vì phản bội Bắc Nhu."
Cách ấy giữ được thể diện cho đối phương, đồng thời giúp Đại Tề lần ra đường dây nội gián.
Trở ngại cuối cùng vẫn là ba đồn biên giới.
Cha nghe Hách Liên Sóc tiếp tục nghi ngờ liền đập bàn:
"Nếu ngươi không phục, cứ ra ngoài giao đấu."
"Ai thắng thì quyết định điều khoản."
Ta vội kéo tay áo cha:
"Cha, đây là nghị hòa, không phải luận võ."
Sau một hồi bàn bạc, hai bên thống nhất kiểm tra binh lực của nhau rồi tổ chức diễn binh công khai.
Kết quả cho thấy quân số tại ba đồn ít hơn tin tức Bắc Nhu nhận được gần một nửa.
Kho lương cũng chỉ đủ dùng trong hai mươi ngày, hoàn toàn không phù hợp với một cuộc xâm lấn.
Phía Đại Tề xác nhận năm vạn kỵ binh Bắc Nhu, phần lớn là dân binh mang theo gia súc, mục đích chính nhằm gây sức ép mở đường trao đổi, chưa thật sự sẵn sàng t.ử chiến.
Để dập tắt ý định của phe hiếu chiến, cha cho năm nghìn quân Trấn Bắc diễn trận phòng thủ tại thung lũng.
Chưa đầy nửa canh giờ, họ đã khóa c.h.ặ.t mọi đường tiến.
Hách Liên Sóc xem xong, sắc mặt nghiêm lại:
"Muốn phá Nhạn Môn, Bắc Nhu quả thật phải trả giá rất lớn."
Cha cũng thẳng thắn đáp:
"Nhưng nếu chiến tranh kéo dài, kỵ binh các ngươi đủ sức khiến biên cảnh Đại Tề không được yên."
"Màn phô diễn ấy giúp cả hai phía hiểu rằng tiếp tục đối đầu chỉ khiến bách tính chịu khổ."
Sau bảy ngày thương lượng, Hòa ước được lập thành ba bản, bằng hai loại chữ.
Hai bên cùng lùi quân khỏi Hắc Thủy.
Đại Tề giữ ba đồn nhưng giới hạn quân số, đồng thời mở trợ biên giới vào tháng ba, tháng sáu và tháng chín hằng năm.
Mọi tranh chấp phải được hội thẩm giải quyết trong mười ngày.
Không bên nào được tự ý điều quân trả đũa.
Bắc Nhu giao ba kẻ nhận bản đồ giả.
Đại Tề cam kết không dùng vụ nội gián làm cớ tiến đ.á.n.h các bộ lạc khác.
Một phần thuế trợ biên được dùng để bồi thường cho dân vùng biên, phần còn lại sửa đường và xây kho cứu tế.
Hách Liên Sóc ký tên trước rồi đưa b.út cho Cố Tương Dục.
"Ta không ngờ Thừa tướng Đại Tề lại chịu nhượng bộ như vậy."
Phu quân ta nhận b.út, điềm tĩnh đáp:
"Hòa ước không phải cuộc tranh xem ai chịu thiệt ít hơn."
"Chỉ cần hai bên đều có lý do giữ lời, nó mới tồn tại lâu dài."
Ngày sứ đoàn trở về, tuyết đầu mùa rơi trên Nhạn Môn quan.
Trước lúc chia tay, cha kéo Cố Tương Dục sang một bên, nghiêm giọng dặn:
"Nếu ngươi để con gái ta chịu ủy khuất, ta sẽ lập tức mang quân về kinh."
Hắn cung kính hành lễ:
"Tiểu tế sẽ bảo vệ nàng, nhưng cũng sẽ tôn trọng để nàng tự lựa chọn con đường của mình."
Cha im lặng hồi lâu rồi vỗ mạnh lên vai con rể, suýt khiến người nọ lùi xuống một bậc đá.
Liễu Như Yên không theo chúng ta về kinh mà ở lại biên thành nhận chức nữ quan.
Nàng nắm tay ta, khẽ nói:
"Cuối cùng ta cũng có thể dùng những điều mình học để bảo vệ bách tính, không phải làm quân cờ cho quyền quý."
Ta đáp:
"Con đường phía trước sẽ khó, nhưng ít nhất nó thuộc về ngươi."
Hoàng thượng đích thân ra cửa Chu Tước đón sứ đoàn, sau đó mở đại triều công bố hòa ước.
Cố Tương Dục được phong Thái phó, nhưng từ chối thêm thực quyền, chỉ xin chỉnh sửa chế độ nội các, để mọi quyết định trọng yếu phải có ít nhất ba nha môn cùng phê chuẩn.
Phần thưởng dành cho ta là tước hiệu Nhất phẩm Hộ Quốc phu nhân.
Ta xin đổi một nửa vàng bạc thành lương thực gửi tới các thôn làng từng bị chiến sự tàn phá.
Bệ hạ bật cười:
"Một người không cần quyền, một người không cần vàng, khiến trẫm muốn ban thưởng cũng khó."
Ta cúi người đáp:
"Thần phụ vẫn thích vàng, chỉ là hiện tại có người cần nó hơn."
Cả điện vang lên tiếng cười.
Sau đó, tài sản Trịnh gia có được từ nhiều vụ tham ô bị xung công, còn Thái hậu suốt đời không được rời Từ Ninh cung.
Triều đình dần ổn định, quyền cấm quân và ngân khố cũng được chia cho nhiều nha môn giám sát lẫn nhau.
Một năm sau ngày thành hôn, phủ Thừa tướng tổ chức gia yến nhỏ.
Trong bữa cơm, cha uống được vài chén, liền nhắc lại ba tiêu chuẩn chọn con rể năm xưa:
"Nếu không nhờ ta có mắt nhìn người, con tìm đâu ra một phu quân vừa sạch sẽ vừa có bản lĩnh."
Ta bật cười:
"Cha có định kiểm tra xem Cố Tương Dục còn giấu Hồng Nhan tri kỷ nào không?"
Cha lập tức đặt chén xuống, nghiêm túc nhìn con rể.
Cố Tương Dục bất đắc dĩ đáp:
"Cả đời này chỉ có một vị phu nhân đã đủ khiến ta không được yên tĩnh."
Mọi người cười vang, còn ta đá nhẹ vào chân hắn dưới gầm bàn.
Người nọ không tránh, trái lại còn nắm lấy tay ta trong tay áo rộng.
Sau khi khách rời đi, hắn dẫn ta tới sân sau, nơi cây hải đường được trồng đúng ngày thành hôn đang nở lứa hoa đầu tiên.
Dưới ánh trăng, Cố Tương Dục lấy ra một cây trâm ngọc hình cánh chim.
Hôn lễ năm trước do Thánh chỉ và cha nàng sắp đặt, chưa từng có ai hỏi nàng có thật lòng bằng lòng hay không.
Hắn nhìn thẳng vào mắt ta:
"Hôm nay không có hoàng mệnh, không có lợi ích triều đình."
"Nàng có nguyện tiếp tục làm thê t.ử của Cố Tương Dục không?"
Ta nhớ tới bàn tay đưa ra dưới khăn voan, những bát canh trong buổi sáng, đêm điều tra mười hai tội trạng và cái ôm sau cuộc chính biến.
Cuộc hôn nhân ban đầu không do ta lựa chọn, nhưng từng ngày sau đó đều là quyết định của chính mình.
Ta nhận cây trâm:
"Nếu chàng hứa từ nay không giấu thương tích, không tự quyết định thay ta và mỗi ngày đều về dùng bữa, ta có thể miễn cưỡng ở lại thêm vài chục năm."
Khóe mắt hắn cong lên:
"Đời này xin nghe phu nhân phân phó."
Ta tựa đầu lên vai phu quân, bất chợt hỏi:
"Nếu năm xưa cha không ép chàng cưới, liệu chúng ta có gặp nhau không?"
Cố Tương Dục thú nhận ngày cha tới phủ bàn chuyện hôn sự, hắn từng đứng sau bình phong nhìn thấy ta tranh cãi với người.
Khi ấy ta tức giận vì bị sắp đặt.
Bước qua ngưỡng cửa còn suýt vấp ngã, vậy mà vẫn quay lại chỉnh áo choàng cho cha vì sợ trời lạnh.
Lúc ấy ta đã nghĩ, nếu nàng trở thành người nhà phủ Thừa tướng, có lẽ sẽ bớt lạnh lẽo.
Ta ngẩng lên hỏi:
"Vậy tại sao đêm tân hôn chàng còn bỏ thê t.ử một mình?"
Người nọ ho khẽ:
"Ta quá căng thẳng, không biết phải làm gì, đành trốn sang thư phòng giả vờ xem công văn."
Nghe xong, ta bật cười, còn hắn chỉ biết bất lực ôm ta vào lòng.
Cha chọn một người phù hợp bằng ba điều kiện kỳ quặc, Hoàng thượng ban xuống một đạo thánh chỉ, nhưng người quyết định đi hết con đường vẫn là chúng ta.
Ta không trở thành nữ t.ử nép sau bóng phu quân, Cố Tương Dục cũng chẳng biến thành con rối của Thẩm gia.
Mỗi người vẫn giữ lấy bản lĩnh và trách nhiệm riêng.
Chỉ là từ nay, mọi con đường đều có thêm một người đồng hành.
Trong chính sảnh, đôi nến long phụng từ ngày đại hôn được thắp lại.
Ánh sáng xuyên qua cửa sổ, soi thành hai bóng người sát cạnh nhau.
Ta siết c.h.ặ.t bàn tay đang nắm lấy mình.
Năm tháng về sau có thể vẫn còn sóng gió, nhưng ta không còn sợ phải đối diện một mình.
Bởi nơi Cố Tương Dục đứng, từ lâu đã trở thành nhà của ta.