Tạ Huyên lập tức gạt chuyện kia sang một bên, khoát tay nói:

“Bỏ đi, bỏ đi. Ta không rảnh chơi trò đoán đố với đệ. Đợi đến ngày Hoài Phong thành thân, tự khắc ta sẽ biết.”

Dứt lời, hắn lập tức bước nhanh về phía trước để nghênh đón Vân Chỉ.

So với ba năm trước, Vân Chỉ gần như không thay đổi nhiều. Gió sương khắc nghiệt nơi Bắc địa dường như chẳng thể làm phai nhạt vẻ kiều diễm của nàng ta.

Để nàng ta có thể sống thoải mái ở nơi lạnh giá ấy, Tạ Huyên đã bỏ ra một khoản tiền lớn, đặc biệt thuê người thường xuyên qua lại giữa Bắc địa và kinh thành để mua sắm y phục, trang sức cùng phấn son cho nàng ta.

Giữa vùng đất quanh năm lạnh buốt ấy, Vân Chỉ vẫn là đóa hoa rực rỡ nhất.

Có lần, ta tình cờ bắt gặp gã sai vặt của Tạ Huyên đang mua đồ ở Thải Y phường.

Hôm ấy, cửa hàng vừa nhập về một chiếc áo choàng lông cáo có màu sắc và chất lượng tuyệt hảo, giá cả cũng đắt đỏ đến mức khiến người ta phải chùn bước.

Một vị thiên kim của tướng phủ vừa nhìn trúng chiếc áo, đang định bỏ tiền mua thì gã sai vặt kia đã nhanh hơn một bước, lập tức trả tiền trước.

Hắn nói với chủ cửa hàng:

“Thế t/ử gia đã căn dặn, Vân tiểu thư vốn sợ lạnh, nhất định phải tìm cho nàng ấy chiếc áo choàng tốt nhất.”

Sau đó, gã sai vặt quay sang vị thiên kim kia, khách sáo nói:

“Tiểu nhân khó khăn lắm mới tìm được một chiếc ưng ý, thật sự xin lỗi.”

Vị thiên kim tướng phủ bị mất mặt, trong lòng tức tối, thuận tay chỉ về phía ta, cố ý hỏi:

“Vậy nàng ta thì sao? Nàng ta chẳng phải thanh mai trúc mã của thế t/ử sao? Đến nàng ta cũng không chịu nhường cho Vân tiểu thư à?”

Gã sai vặt ngước mắt nhìn ta, khóe môi cong lên đầy vẻ giễu cợt.

Hắn lạnh nhạt đáp:

“Thế t/ử từng căn dặn, không ai được phép đem người khác ra so sánh với Vân tiểu thư.”

Bất kể người đó là ai, sự thiên vị mà Tạ Huyên dành cho Vân Chỉ từ trước đến nay chưa từng có phần dành cho người thứ hai.

Trong bữa tiệc, Tạ Huyên ân cần dặn dò Vân Chỉ:

“Chỉ Nhi, mấy hôm trước nàng vừa bị cảm lạnh, tuyệt đối không được uống rượu. Ta đã bảo nhà bếp hầm riêng cho nàng một bát cháo yến sào rồi.”

Vân Chỉ hơi đỏ mặt, khẽ đáp một tiếng.

Đám bằng hữu ngồi bên cạnh lập tức bật cười trêu chọc:

“Ba năm không gặp, A Huyên của chúng ta vậy mà đã trở thành người chu đáo nhất rồi, có phải không?”

Một người khác thuận miệng tiếp lời:

“Lúc hắn vừa đến Bắc địa, Vân tiểu thư bệnh đến mức nằm liệt trên giường, tưởng chừng mất cả nửa cái mạng. Thư từ Tạ phủ gửi đi hết bức này đến bức khác, vậy mà vẫn không thể gọi hắn trở về.”

Người kia còn chưa nói hết, đã bị người bên cạnh huých mạnh vào cánh tay.

Hắn lập tức im bặt, miễn cưỡng nuốt những lời còn lại vào bụng.

Nhưng Tạ Huyên đã nghe rất rõ. Hắn ngẩng đầu nhìn về phía ta, vẻ mặt thoáng hiện sự ngỡ ngàng.

“Muội thật sự từng bị bệnh sao?”

Hắn dừng lại một chút, rồi nói tiếp:

“Ta còn tưởng đó chỉ là cái cớ để mọi người gọi ta trở về.”

Mùa đông năm ấy, kể từ khi Tạ Huyên rời kinh thành, thời tiết cũng trở nên lạnh giá khác thường.

Ta bắt đầu mất ngủ triền miên. Có những đêm, dù nằm mãi trên giường, ta vẫn không thể chợp mắt.

Vất vả lắm mới mệt mỏi thiếp đi, trong giấc mơ lại liên tục vang lên giọng nói của hắn.

“Sương Nhi, chúng ta sẽ ở bên nhau cả đời.”

“Sương Nhi, muội nhất định phải mãi mãi thích ta như thế.”

Thế nhưng, chỉ trong chớp mắt, tất cả những dịu dàng và ngọt ngào ấy đều biến thành sự lạnh lùng.

“Đó chẳng qua chỉ là lời nói đùa. Muội sẽ không thật sự coi là thật đấy chứ?”

Ta muốn nói gì đó, nhưng cổ họng nghẹn lại, chẳng thể thốt nên lời. Lòng đau như bị d/a/o cứa.

Câu nói ấy cứ lặp đi lặp lại, giống như một cơn ác mộng kéo ta rơi thẳng xuống vực sâu không đáy.

Những ký ức năm xưa vốn đã bị phong kín trong đầu cũng theo đó ùa về.

Cảnh phụ mẫu c/h/ế/t t/h/ả/m cứ hết lần này đến lần khác hiện ra trước mắt ta.

“Lăng Sương, tất cả đều tại ngươi. Nếu phụ mẫu ngươi không vì muốn đến ngôi miếu ngoài thành cầu phúc cho ngươi, bọn họ đâu đến nỗi phải c/h/ế/t?”

“Ngươi đúng là đồ sao chổi! Ngươi chính là một ngôi sao chổi!”

Ta bắt đầu sợ ánh sáng, cũng sợ phải đối diện với bất kỳ ai.

Căn phòng của ta ngày ngày đều phải đóng kín. Rèm cửa dày nặng che phủ toàn bộ cửa sổ, không để lọt vào dù chỉ một tia nắng.

Ta cứ thế cuộn mình trong bóng tối, thân thể và tinh thần ngày một suy kiệt.

Lan Di đã mời hết đại phu này đến đại phu khác, thậm chí còn tìm cả ngự y trong cung đến chẩn bệnh.

Cuối cùng, tất cả các đại phu đều chỉ biết lắc đầu. Đây là bệnh trong lòng, t/h/u/ố/c men thông thường căn bản không thể chữa khỏi.

Bệnh tình của ta ngày càng nghiêm trọng. Ta chỉ có thể co ro trong một góc giường, bất cứ tiếng động nhỏ nào cũng đủ khiến toàn thân run rẩy vì sợ hãi.

Cơ thể ta gầy gò đến mức tưởng chừng chỉ còn lại một bộ xương mỏng manh, dường như chỉ cần một cơn gió nhẹ cũng có thể cuốn ta đi.

Về sau, sức lực của ta dần cạn kiệt, ngay cả việc giữ cho bản thân tỉnh táo cũng trở nên khó khăn. Cuối cùng, ta hoàn toàn chìm vào hôn mê.

Dẫu vậy, bên tai ta vẫn mơ hồ vang lên tiếng khóc nghẹn ngào của Lan di.

Bà vừa khóc vừa nức nở than thở:

“Ta đã viết không biết bao nhiêu lá thư, bảo Nguyên Nhi trở về. Có lẽ vẫn còn kịp để nó gặp mặt Sương Nhi lần cuối, vậy mà nó chẳng chịu hồi âm.”

Bên ngoài chợt vang lên tiếng bước chân hỗn loạn. Ngay sau đó, một nha hoàn mừng rỡ kêu lên:

“Phu nhân, thế t/ử gửi thư về rồi! Ngài ấy hồi âm rồi!”

Lan di luống cuống xé phong thư, đôi tay run rẩy đọc từng dòng chữ bên trong.

Trong thư, Tạ Huyên chỉ lạnh lùng viết:

“Bảo Lăng Sương đừng tiếp tục diễn trò khổ nhục kế này nữa. Thật vô vị! Đừng hòng dùng cách đó lừa ta trở về.”

Ngay sau đó, ta lập tức phun ra một ngụm m/á/u tươi, rồi hoàn toàn mất đi ý thức.

“Muội rốt cuộc mắc bệnh gì vậy?”

Tạ Huyên vẫn chưa chịu thôi truy hỏi.

Ta chỉ lắc đầu. Đến lúc này, chuyện ấy đã chẳng còn quan trọng nữa.

Hắn bật cười, dường như hoàn toàn không để tâm:

“Chắc cũng chỉ là cảm lạnh giống Chỉ Nhi thôi. Nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng một thời gian là khỏi.”

Hắn nhìn ta từ trên xuống dưới, rồi thản nhiên nói tiếp:

“Muội xem, bây giờ chẳng phải muội vẫn khỏe mạnh hay sao?”

Ta khỏe mạnh ư?

Nếu không có Lục Hoài Phong, có lẽ ta đã chẳng thể tỉnh lại.