Ngày ta thoát khỏi cơn mê man đã là mười ngày sau đó.
Lúc ấy, Lục Hoài Phong đang ngồi dưới đất bên cạnh giường. Chàng chống tay lên trán, đôi mày nhíu c/h/ặ/t. Ngay cả khi đã ngủ thiếp đi, vẻ mặt chàng vẫn đầy bất an.
Lan di kể với ta rằng, Lục Hoài Phong đã không quản đường sá xa xôi, vượt núi băng sông để tìm được một vị thần y ẩn cư.
Chàng quỳ suốt ba ngày ba đêm trước cửa nhà người ta, cuối cùng mới khiến vị thần y ấy động lòng. Sau đó, chàng lại bất chấp đường xa, ngày đêm túc trực bên giường ta suốt mười ngày liền.
Lan di vừa kể vừa thở dài cảm khái:
“Thần y nói, nếu Hoài Phong không kịp thời tìm đến cầu cứu, e rằng bệnh của con cả đời cũng không thể chữa khỏi.”
Đúng lúc ấy, Lục Hoài Phong chậm rãi mở mắt.
Vì nhiều ngày thức trắng, đôi mắt chàng đỏ ngầu, mái tóc vốn chỉnh tề giờ rối tung, rũ xuống hai bên.
Đây là lần đầu tiên ta nhìn thấy chàng trong bộ dạng tiều tụy và chật vật đến vậy.
Lần đầu ta gặp Lục Hoài Phong cũng là sau chuyện cá cược với Tạ Huyên bên hòn non bộ.
Khi ấy, mọi người đều cười nói rồi lần lượt rời đi. Chỉ có một thiếu niên mặc cẩm y màu nguyệt bạch quay người trở lại.
Chàng vội bước đến trước mặt ta, nhét gói giấy đang cầm trong tay vào tay ta, dịu dàng an ủi:
“Trông muội sắp khóc đến nơi rồi. Ăn chút kẹo đi. Chuyện này là lỗi của bọn họ, không phải lỗi của muội. Đừng buồn nữa.”
Thiếu niên ấy chính là Lục Hoài Phong.
Mối giao tình giữa chúng ta ban đầu chỉ đơn giản như vậy, chẳng qua là một lần tình cờ gặp gỡ.
Ta không hiểu tại sao chàng lại đối xử nhiệt tình với mình đến thế. Nhưng sự quan tâm của chàng không chỉ dừng lại ở lần gặp ấy.
Chàng tự tay tháo hết những tấm rèm che kín căn phòng của ta.
Ánh nắng lập tức ùa vào từ ngoài cửa sổ. Ta nhất thời không quen, vội đưa tay che mắt, ngơ ngác hỏi:
“Huynh... huynh đang làm gì vậy?”
Lục Hoài Phong đứng ngược sáng. Ánh mặt trời phủ lên người chàng một quầng sáng vàng nhạt, khiến thân hình cao ráo ấy như được bao bọc trong ánh sáng.
Chàng nhìn ta, nghiêm túc nói:
“Lăng Sương, muội đứng dưới ánh mặt trời là đẹp nhất.”
Thật ra, khi ấy ta chẳng có chút dáng vẻ xinh đẹp nào.
Ta vừa trải qua một trận bệnh nặng, thân hình gầy gò, sắc mặt tiều tụy, làn da cũng trở nên sạm đi. Đến cả soi gương, ta còn chẳng muốn nhìn.
Thế nhưng, chàng lại nói với vẻ chân thành đến mức khiến ta không thể không tin.
Từ đó, ta bắt đầu thử bước ra khỏi bóng tối, chậm rãi làm quen với ánh sáng bên ngoài.
Mỗi ngày, Lục Hoài Phong đều mang đến cho ta một cành hoa tươi, trên cánh hoa còn vương những giọt sương sớm.
Những cành hoa ấy được cắm vào chiếc bình đặt bên cửa sổ, ngày ngày đón nắng mà nở rộ.
Nhưng so với những đóa hoa rực rỡ kia, nụ cười của Lục Hoài Phong còn khiến người ta khó lòng rời mắt hơn.
Có lần, ta không nhịn được mà hỏi chàng:
“Huynh thích ta sao?”
Ngoài lý do ấy ra, ta thật sự không nghĩ ra được tại sao chàng lại đối xử tốt với ta đến vậy.
Nụ cười trên môi chàng càng trở nên rạng rỡ.
“Ta còn tưởng mình đã thể hiện đủ rõ ràng rồi chứ.”
Quả thực, tâm ý của Lục Hoài Phong chưa bao giờ được che giấu. Bất cứ ai cũng có thể nhìn ra.
Chàng thẳng thắn, nhiệt tình, chẳng hề muốn giấu giếm tình cảm của mình.
Chàng nhìn thẳng vào mắt ta, chân thành bày tỏ:
“Lăng Sương, ta thích nàng. Ta rất thích nàng, thích nàng vô cùng.”
Ta luống cuống cúi mắt, giọng nói cũng trở nên lắp bắp:
“Xin lỗi, ta... ta...”
Sau một trận bệnh nặng tưởng chừng không thể qua khỏi, dường như ta đã mất đi khả năng yêu một người.
Cái tên Tạ Huyên giờ đây cũng chẳng thể khiến lòng ta nổi lên dù chỉ một gợn sóng.
Ta nghĩ, có lẽ mình sắp phụ tấm chân tình của Lục Hoài Phong rồi.
Đúng lúc ấy, trước mắt ta xuất hiện một cành tường vi mà chàng vừa mang tới.
Chàng dịu dàng lên tiếng:
“Đừng xin lỗi. Chuyện này không phải lỗi của nàng. Ta có thể đợi, chúng ta cứ từ từ.”
Đến năm thứ hai, Tạ Huyên ở Bắc địa đã giúp Vân phụ lập được không ít công trạng.
Nghe nói, thánh thượng đang có ý định khôi phục chức quan cho Vân phụ.
Lục Hoài Phong tiến cung yết kiến hoàng đế, chân thành dâng lời:
“Bắc địa vốn là nơi cằn cỗi, rất ít quan viên có thể làm nên thành tích như vậy. Chi bằng để ngài ấy tiếp tục ở lại thêm hai năm. Thần tin rằng nếu có thêm thời gian, ngài ấy nhất định sẽ khiến Bắc địa ngày một tốt hơn.”
Khi ấy, Lục Hoài Phong là vị thị lang trẻ tuổi nhất của Lại bộ.
Lời tâu của chàng vừa hợp tình hợp lý, lại đúng ý thánh thượng. Hoàng đế lập tức phất tay, chuẩn thuận:
“Chuẩn tấu. Vậy cứ để ông ấy ở lại thêm hai năm.”
Ngày hôm đó, Lục Hoài Phong cười nhiều hơn thường lệ.
Bó hoa chàng mang đến tặng ta cũng rực rỡ đủ sắc màu, chẳng khác nào tâm trạng vui vẻ của chàng.
Ta cũng bị niềm vui ấy lây sang, không nhịn được mà mỉm cười hỏi:
“Hôm nay huynh có chuyện gì mà vui thế?”
Chàng cười đáp:
“Có một người bạn tri kỷ đã giúp ta có thêm rất nhiều thời gian và cơ hội.”
Ta gật đầu, vui vẻ nói:
“Ồ, vậy đúng là chuyện đáng mừng.”
Mùa xuân năm ấy, Lục Hoài Phong đưa ta ra ngoài đạp thanh.
Chiếc diều hình bươm bướm do chính tay chàng làm lớn đến mức có phần khoa trương. Giữa bầu trời đầy những cánh diều, nó vẫn bay cao và nổi bật, khiến người ta chỉ cần liếc mắt cũng có thể nhìn thấy.
Trên thân diều còn viết một câu thơ: “Sơn hữu mộc hề mộc hữu chi.”
Lục Hoài Phong quay sang nhìn ta, mỉm cười hỏi:
“Sương Sương, nàng đoán xem câu tiếp theo là gì?”
Ta chẳng cần suy nghĩ đã buột miệng đáp:
“Đương nhiên là ‘Tâm duyệt quân hề quân bất tri’ rồi.”
Chàng lập tức im lặng, chỉ nhìn ta chằm chằm, sau đó bật cười.
Người này đúng là như vậy.
Nhưng nụ cười của chàng lại đẹp đến mức khiến ta chẳng nỡ rời mắt.
Mùa hè, Lục Hoài Phong thuê một chiếc thuyền nhỏ, đưa ta vào đầm hái đài sen.
Thuyền càng lúc càng tiến sâu giữa hồ sen. Đến khi chàng đưa tay hái một đóa sen, động tác có phần mạnh tay khiến ta mất thăng bằng.
Chân ta trượt một cái, cả người lập tức đổ nhào vào lòng chàng.
Lục Hoài Phong cúi mắt nhìn ta.
Trong đôi mắt ấy phản chiếu cả mặt hồ ngập tràn sắc sen, những đóa hoa lay động theo làn nước, và giữa khung cảnh ấy còn có cả bóng dáng của ta.