Ôn Hạc Niên nhìn gương mặt lặng yên không chút gợn sóng của ta, bỗng mở miệng hỏi:

“Nha đầu, ngươi không muốn tận mắt nhìn xem trên đời này còn bao nhiêu phong cảnh đẹp hay sao?”

Ta lặng lẽ nằm trên giường, trong đầu hiện lên trận mưa xuân lạnh buốt nơi kinh thành.

Chín năm qua, ta bị nhốt trong bóng tối, cũng bị nhốt trong một lời hứa hư vô mờ mịt.

Mà nay, cơn gió dưới đáy vực đã thổi tan mọi chấp niệm trong lòng ta.

Ta lần mò chống người ngồi dậy, hướng về phía Ôn Hạc Niên, trịnh trọng cúi đầu.

“Muốn.”

Ta theo Ôn Hạc Niên đến Thần Y Cốc.

Ôn lão tiền bối tính tình cố chấp, mà cách chữa bệnh của ông cũng vô cùng tàn nhẫn.

Mỗi ngày, ông đều dùng ngân châm phong các đại huyệt quanh mắt ta, sau đó lại đắp bùn thảo d.ư.ợ.c nóng bỏng lên.

Ta c.ắ.n c.h.ặ.t răng, cứng rắn chịu đựng, không kêu lấy một tiếng.

Ta dưỡng thương trong bóng tối, ngày tháng trong cốc bình lặng như dòng nước nhỏ chảy qua khe đá.

Cho đến một buổi sáng nọ.

Ta cầm gậy dò đường, vừa đi đến đầu cầu thì nghe thấy một trận ho khẽ bị người ta cố ý kìm xuống.

“Cô nương muốn qua cầu sao?” Giọng một nam t.ử vang lên, trong trẻo mà lạnh nhạt.

Trước kia ở kinh thành, nếu gặp tình huống như vậy, hạ nhân Bùi gia hoặc Bùi Úc đều sẽ không nói hai lời mà trực tiếp nắm lấy cánh tay ta.

Bọn họ luôn cảm thấy ta mong manh dễ vỡ, tựa như chỉ cần buông tay, ta sẽ ngã tan thành từng mảnh.

Nhưng người trước mắt này thì không.

Ta chỉ nghe thấy tiếng vải áo khẽ ma sát trong gió.

Ngay sau đó, một cây gậy trúc được mài cực kỳ nhẵn nhụi, chuẩn xác đưa đến trước lòng bàn tay ta chừng nửa tấc.

“Tấm ván thứ ba trên cầu đã nứt, cô nương bước lệch sang trái nửa bước thì có thể tránh được.” Hắn nhắc nhở, giọng điệu bình thản như nước.

Ta thuận thế nhận lấy gậy trúc, dựa theo lời chỉ dẫn của hắn, vững vàng đi qua dòng suối nhỏ.

Đó là lần đầu tiên trong suốt chín năm qua, ta được người khác chăm sóc một cách dễ chịu đến vậy.

Không thương hại, cũng không ban ơn.

Hắn chỉ đưa cho ta một cây gậy, nói với ta nơi nào có hố, rồi để ta tự mình bước qua.

Sau này ta mới biết, hắn tên là Tiêu Nghiễn Từ.

Hắn là khách đến cốc chữa bệnh, trong người mang bệnh cũ rất nặng.

Tiêu Nghiễn Từ là người cực kỳ biết chừng mực.

Mỗi lần ta lạc đường trong hành lang xa lạ, hắn luôn vừa khéo xuất hiện.

“Thuận đường.” Hắn lúc nào cũng nói như vậy.

Sau đó bước chân hắn sẽ chậm lại, tiếng đế giày giẫm trên đá xanh rõ ràng vừa đủ để ta nghe thấy.

Vừa hay đủ để ta lần theo âm thanh ấy, yên ổn đi phía sau hắn.

Có một lần, ta vấp ngã làm rách đầu gối, ngồi trên đất bùn lần mò tìm gậy.

Hắn không vội vàng lao tới kéo ta dậy.

Hắn chỉ lặng lẽ đứng đó, nhìn ta từng chút một sờ được gậy trúc, rồi tự chống đất đứng lên.

Đợi ta phủi sạch bụi đất trên váy, hắn mới đưa tới một chiếc khăn sạch.

“Phía trước bên trái có một tảng đá, lần sau nhớ vòng qua.” Giọng hắn vẫn bình thản như thường.

Ta nhận chiếc khăn ấy, trong lòng lại thấy vững vàng đến lạ.

Hắn hiểu sự cứng đầu của ta, cũng cho ta đủ thể diện.

Tháng thứ bảy ở Thần Y Cốc, đầu xuân vừa đến.

Ôn lão tiền bối châm cho ta lần cuối.

“Nha đầu, hôm nay tháo vải được rồi.”

Ta ngồi trước cửa sổ, hai tay đan c.h.ặ.t vào nhau, lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi.

Từng vòng, từng vòng vải băng được tháo xuống.

Khi lớp che chắn cuối cùng rơi khỏi mắt ta, ánh sáng mãnh liệt liền tranh nhau tràn vào.

Trước mắt ban đầu chỉ là một vùng sáng trắng mơ hồ.

Dần dần, lớp sương mù ấy tan đi, đường nét vạn vật cũng bắt đầu trở nên rõ ràng.

Ta nhìn thấy những đường vân gỗ trên khung cửa sổ.

Sau đó, ta chậm rãi quay đầu nhìn ra bên ngoài.

Lê hoa khắp núi đồng nội nở rộ rực rỡ như lửa.

Mà dưới gốc lê sum suê nhất, có một người đang lặng lẽ đứng đó.

Hắn mặc một thân áo bào thanh nhã, sắc mặt tái nhợt, nhưng mày mắt lại đẹp đến lạ thường.

Trong đáy mắt hắn chứa ánh sáng vụn vỡ, đang yên tĩnh nhìn về phía ta.

Đó là một ánh mắt vô cùng dịu dàng.

Không có sự nhìn xuống từ trên cao, cũng không có dò xét, chỉ có niềm vui thuần khiết cùng nhẹ nhõm.

Ta ngồi ngẩn ra nơi ấy, nhìn thật lâu, thật lâu.

Trong ký ức, Bùi Úc từng bẻ một cành hải đường đặt vào tay ta, nói với ta rằng màu hải đường đỏ như kẹo.

Nhưng phải đến khoảnh khắc này, ta mới thật sự hiểu ra.

Hóa ra màu sắc của thế gian này không chỉ thuộc về cành hải đường trong lời kể của Bùi Úc.

Tiêu Nghiễn Từ sải đôi chân dài, đi đến trước cửa sổ của ta.

Hắn nhìn vào mắt ta, từng chữ nói ra rõ ràng:

“Nếu nàng muốn về kinh đòi lại công đạo, ta sẽ đi cùng nàng.”

“Nếu nàng muốn ở lại Giang Nam, ta cũng đưa nàng đi.”

Ta nhìn nam t.ử trước mắt, hốc mắt bỗng cay xè, nhưng khóe môi lại không nhịn được mà cong lên.

Năm mười tuổi, vì một lời hứa, ta tự nhốt mình trong một khoảng trời chật hẹp có bốn bức tường.

Còn bây giờ.

Ta nhìn trời đất rộng lớn ngoài cửa sổ, lần đầu tiên cảm thấy quyền lựa chọn cuối cùng cũng nằm trong tay chính mình.

Lê hoa trong Thần Y Cốc tàn rồi lại nở, đôi mắt ta cũng hoàn toàn khỏi hẳn.

Ôn lão tiền bối muốn về kinh thành ăn vịt quay, nên thuận đường đi cùng ta.

Bệnh cũ của Tiêu Nghiễn Từ cũng đã ổn định, đương nhiên cùng chúng ta lên đường.

Khi xe ngựa chạy vào địa giới kinh thành, lời đồn bên ngoài đã truyền đi vô cùng khó nghe.

Người ta nói đích nữ mù lòa của Thẩm gia phần lớn là phúc mỏng mệnh ngắn, đã bỏ mạng nơi hoang sơn dã lĩnh.

Ta ngồi trong xe, ngay cả hàng mày cũng chẳng nhúc nhích.

Tiêu Nghiễn Từ ngồi đối diện ta, ngón tay thon dài chậm rãi bóc một quả quýt.

“Sợ không?” Hắn hỏi.

Ta đặt một múi quýt vào miệng, vị chua ngọt lập tức lan trên đầu lưỡi.

“Người đã từng c.h.ế.t một lần, thứ nên sợ không phải là lời đồn, mà là đám người sống mang lòng dạ quỷ quyệt.”

Sư t.ử đá trước cổng Thẩm phủ vẫn uy nghiêm như thuở nào.

Xe ngựa vừa dừng vững, cuối con phố dài đã truyền đến tiếng vó ngựa dồn dập.

Bùi Úc gần như lăn khỏi lưng ngựa mà nhảy xuống.

Đáy mắt hắn đầy tơ m.á.u, vạt áo còn dính bùn xuân.

Ta vén rèm xe, giẫm lên bậc, vững vàng bước xuống đất.

Không có gậy dò đường, cũng không cần thử dò từng bước.

Ta cứ đứng thẳng như vậy dưới thanh thiên bạch nhật, ngẩng mắt nhìn hắn.