Thẩm Thanh Từ lắc đầu. Chàng cởi áo ngoài, đưa cho tiểu đồng, rồi bảo tiểu đồng chuyển lại cho ta.
“Giặt không sạch cũng không sao. Ba ngày sau, vẫn gặp ở đây.”
Ta nhận lấy áo. Y phục rất sạch, thoang thoảng mùi bồ kết, hoàn toàn khác với mùi rượu và phấn son trong Kim Ngọc Lâu.
Ta rũ mắt: “Đa tạ công t.ử.”
Thẩm Thanh Từ không nói thêm, xách hộp bánh hoa quế rời đi.
Ba ngày sau, ta gấp gọn chiếc áo đã giặt sạch, thay bộ y phục giản dị tương tự rồi đến tiệm bánh. Quả nhiên, Thẩm Thanh Từ đã tới.
Khi đưa áo cho chàng, ta cố ý để lộ một góc tờ giấy trong tay áo. Trên giấy viết nửa bài thơ. Ánh mắt chàng dừng trên đó trong thoáng chốc.
Thẩm Thanh Từ nhận lấy áo, khẽ nói: “Đã làm phiền cô nương.”
Ta lắc đầu: “Vốn là ta làm bẩn, công t.ử không trách tội đã là rộng lượng.”
Tiểu đồng mở áo ra xem, kinh ngạc nói: “Quả nhiên giặt sạch rồi!”
Ta chỉ mỉm cười, không đáp.
Tờ giấy vẫn lộ ra nơi ống tay áo. Gió thổi qua, góc giấy khẽ lật, để lộ nửa câu thơ.
Cuối cùng, Thẩm Thanh Từ lên tiếng: “Cô nương cũng đọc thơ sao?”
Ta như vừa phát hiện giấy lộ ra ngoài, vội thu vào tay áo: “Chỉ là lúc rảnh rỗi viết linh tinh, khiến công t.ử chê cười rồi.”
“Có thể cho ta xem qua chăng?”
Ta do dự một lát rồi đưa giấy cho chàng.
Trên giấy chỉ có hai câu:
“Đèn tàn, mộng cũ theo xa, Thuyền côi chở nguyệt về nhà.”
Nửa bài sau vẫn còn để trống.
Thẩm Thanh Từ xem hồi lâu rồi hỏi: “Vì sao không viết tiếp?”
Ta rũ mắt: “Ta không nghĩ ra.”
“ Hai câu này không giống tiện tay viết nên.”
Ta ngẩng đầu nhìn chàng: “Công t.ử thấy hay sao?”
“Có nỗi cô độc, nhưng không suy sụp.” Thẩm Thanh Từ nói: “Chỉ là nửa sau nếu viết quá nặng, sẽ lấn át ý trước; nếu viết quá nhẹ, lại không nâng đỡ được.”
Lòng ta khẽ động.
Chàng quả thực hiểu thơ.
Ta cố ý nói: “Vậy xin để công t.ử nối tiếp.”
Tiểu đồng đứng bên cạnh ngẩn người, dường như cảm thấy ta quá to gan. Thế nhưng Thẩm Thanh Từ không hề tức giận.
Chàng trả giấy lại cho ta: “Thơ là của cô nương. Người khác nối tiếp, chưa chắc đã hợp ý.”
Ta nhận lấy, cười nhạt: “Biết đâu người khác viết ra, lại chính là điều ta không nghĩ tới.”
Nói xong, ta không nán lại lâu, hành lễ rồi rời đi. Ta cảm nhận được ánh mắt chàng dừng trên lưng mình một lúc.
Sau hôm ấy, ta không đến tiệm bánh chờ chàng nữa. Một lần tình cờ gặp gỡ là duyên phận, hai lần đã có thể khiến người ta sinh nghi. Lần thứ ba, ta đổi sang hiệu sách.
Khi chàng bước vào, ta đang cầm một quyển tạp sử đọc dở. Chưởng quầy trông thấy chàng, vui vẻ nói: “Thẩm công t.ử đến rồi. Quyển sách mấy hôm trước công t.ử hỏi đã có hàng.”
Chàng nhận ra ta. Ta giả vờ như vừa trông thấy, hơi sững lại rồi hành lễ.
“Triệu cô nương.”
Ta chỉ thuận miệng bịa ra họ Triệu, vậy mà chàng lại nhớ.
Ta khẽ đáp: “Thẩm công t.ử.”
Chưởng quầy lấy sách ra, nhưng Thẩm Thanh Từ chưa rời đi. Chàng nhìn quyển tạp sử trong tay ta, hỏi: “Cô nương cũng đọc loại sách này sao?”
“Ta không hiểu lắm.” Ta khép sách lại: “Chỉ cảm thấy người trong sách tranh đấu qua lại, cuối cùng chịu khổ vẫn là bách tính.”
Chàng nhìn ta, ánh mắt có thêm vài phần hứng thú.
Chúng ta nói với nhau đôi câu trong hiệu sách. Sau đó là ở quán trà.
Chàng ngồi bên cửa sổ, còn ta vào tránh mưa. Trông thấy chàng, ta không tiến lại gần. Ngược lại, chàng là người lên tiếng trước:
“Triệu cô nương nếu không chê, có thể ngồi đây.”
Chàng đã bắt đầu chủ động rồi.
Chúng ta bàn về thơ, về sử, về giá gạo gần đây trong thành. Ta không bao giờ nhắc đến thân thế mình, cũng chẳng hỏi chuyện gia đình chàng. Chàng mở lời, ta mới tiếp đôi câu.
Người như Thẩm Thanh Từ không thích nữ t.ử cố ý lấy lòng. Điều chàng thích là biết chừng mực.
Vậy ta cho chàng thấy sự chừng mực ấy.
Nhưng đôi khi, ta cũng quên mất bản thân đang diễn kịch.
Chẳng hạn, khi chàng nhắc đến một vị thanh quan triều trước, người từng kêu oan thay bách tính, cuối cùng lại bị giáng chức, đày khỏi kinh thành.
Chàng nói: “Trên đời không thiếu người khôn ngoan biết giữ mình. Điều hiếm có là người biết rõ gian nan mà vẫn dám mở lời.”
Khoảnh khắc ấy, ta bỗng muốn hỏi chàng: nếu sáu năm trước chàng có mặt ở đó, liệu chàng có nói giúp nương ta một câu hay không?
Ta mỉm cười: “Thẩm công t.ử nói vậy, cứ như sau này muốn làm một vị quan như thế.”
Chàng nhìn làn nước trà trong chén: “Nếu có cơ hội, ta muốn thử.”
Khi ra khỏi quán trà, mưa đã tạnh. Chàng tiễn ta đến đầu ngõ. Ta không để chàng đưa thêm: “Phía trước không xa nữa.”
Chàng gật đầu, rồi hỏi: “Nửa bài thơ ấy, cô nương viết xong chưa?”
Ta lắc đầu: “Vẫn chưa.”
Chàng nói: “Ta đã nghĩ được hai câu.”
Ta ngước mắt nhìn chàng. Thẩm Thanh Từ không đọc ra, chỉ lấy từ trong tay áo một tờ giấy đưa cho ta.
Đó là nửa sau chàng nối tiếp, nét chữ ngay ngắn, thanh nhã.
Ta nhận lấy, cất vào tay áo, khẽ nói: “Đa tạ.”
Chàng nhìn ta, trong mắt đã có nét dịu dàng vừa quen thuộc lại vừa xa lạ.
Từ hôm nay, trong mắt chàng, ta không còn chỉ là một cô nương xa lạ làm bẩn áo chàng nữa.
Ta đã trở thành người có thể cùng chàng chuyện trò.
Thẩm Thanh Từ bắt đầu chủ động hẹn ta. Có khi ở hiệu sách, có khi tại quán trà, cũng có khi là nơi đông người bên bờ sông. Chàng chưa từng vượt lễ, cũng chẳng nói lời bông đùa khinh bạc.
Chàng nhớ ta không thích điểm tâm quá ngọt; khi ta nói lạnh, chàng sẽ sai tiểu đồng mang lò sưởi tay đến; lúc ta thất thần, chàng liền dừng câu chuyện, hỏi: “Triệu cô nương có tâm sự sao?”
Hôm ấy, mưa rơi lất phất. Chúng ta ngồi trên lầu hai quán trà, nhìn người đi đường che ô qua phố.