Tôi chống tay lên thành giường, ngồi dậy.
Cúi xuống nhìn đôi tay mình, trắng trẻo, mềm mại, móng tay được cắt tròn trịa, lòng bàn tay sạch sẽ nhẵn nhụi.
Không có vết chai. Không có vết nứt. Không có ngón trỏ mãi mãi không thể duỗi thẳng vì bị ngâm trong đất mặn kiềm.
Tôi nắm tay lại rồi buông ra.
Thử liên tiếp ba lần.
Sau đó tôi trèo xuống giường, chân trần chạm lên nền xi măng.
Lạnh, nhưng không phải cái lạnh có thể khiến da chân nứt toác như ở vùng đất mặn kiềm, chỉ là cái lạnh bình thường của một đêm đầu thu trong thành phố phương Nam.
Tôi đi đến trước bàn học, bật đèn.
Đó là một chiếc đèn bàn bằng sắt có chụp màu xanh lá. Xoay công tắc sẽ phát ra tiếng “tách”, bóng đèn mười lăm watt tỏa thứ ánh sáng vàng vọt.
Lịch để bàn.
Tôi lật mở lịch.
Ngày 21 tháng 8 năm 1968.
Trên đó có những dấu X tôi dùng b.út chì vạch lên, mỗi ngày trôi qua lại gạch bỏ một ngày. Đây là thói quen tôi hình thành từ nhỏ.
Tôi nhanh ch.óng tính nhẩm trong đầu.
Cha nhận được thông báo đi cải tạo vào đầu tháng Chín, từ bây giờ còn khoảng mười ngày.
Đủ rồi.
3.
Sáng hôm sau.
“Vân Chi! Dậy ăn cơm đi kìa!”
Giọng mẹ vọng từ gian nhà chính sang, vẫn sang sảng như trước, pha chút mất kiên nhẫn.
Tôi đã mặc quần áo xong, áo sơ mi trắng, quần dài xanh, giày vải đen, tóc buộc thành đuôi ngựa.
Khoảnh khắc tôi mở cửa, ánh nắng từ cuối hành lang chiếu tới, sáng đến mức tôi phải nheo mắt.
Trong gian nhà chính.
Cha ngồi ở chính giữa, mặc quân phục thường ngày màu xanh lá, cài cúc đến tận chiếc trên cùng, lưng thẳng tắp. Trước mặt ông là một bát cháo ngũ cốc, một đĩa dưa muối và nửa cái bánh mì ngũ cốc.
Chị ngồi bên tay phải ông. Thẩm Vân Tụ mười lăm tuổi có hai b.í.m tóc đen óng, mái tóc trước trán được chải ngay ngắn, đang cúi đầu đọc một cuốn Thép đã tôi thế đấy.
Đến ăn cơm chị cũng đọc sách.
Mẹ bưng một bát cháo nóng từ bếp ra, mỉm cười đặt trước mặt chị: “Vân Tụ, bỏ sách xuống, ăn xong rồi đọc tiếp. Cháo nguội không tốt cho dạ dày.”
“Con biết rồi, mẹ.” Chị ngoan ngoãn gấp sách lại, cầm đũa lên.
Mẹ lại quay vào bếp bưng thêm một bát ra đặt trước mặt cha: “Lão Thẩm, hôm nay bánh có trộn thêm chút bột mì trắng đấy, ông ăn thêm nửa cái nhé.”
“Ừ.”
Sau đó mẹ mới nhìn thấy tôi đang đứng ở cửa: “Đứng ngây ra đó làm gì? Tự múc đi, trong nồi vẫn còn kia kìa.”
Tôi “ồ” một tiếng rồi đi vào bếp.
Trong nồi quả nhiên vẫn còn cháo, nhưng là phần dưới đáy nồi, loãng đến mức trong bát chẳng tìm được mấy hạt gạo, phần lớn chỉ là khoai lang và vụn bã.
Phần đặc đều đã được múc cho cha và chị.
Trước đây tôi không để ý những chuyện này. Hoặc nói đúng hơn, dù có để ý, tôi cũng chẳng bao giờ để trong lòng.
Nhưng bây giờ thì khác.
Một người đã sống thêm cả một đời, những chuyện từng bỏ qua giờ đây đều nhìn thấy rõ ràng.
Tôi vét sạch phần cháo dưới đáy nồi, đổ vào bát rồi bưng ra ngồi xuống.
Không nói gì.
“Hôm nay sao im thế?” Mẹ ngồi xuống, nhìn tôi một cái: “Bình thường chẳng phải con nói nhiều lắm sao?”
“Không có gì, tối qua con ngủ không ngon.”
“Trẻ con thì có gì mà ngủ không ngon.” Cha không ngẩng đầu, dùng đũa gõ nhẹ lên thành bát: “Ngồi phải có dáng ngồi, ăn phải có dáng ăn. Đừng có nằm bò trên bàn.”
“… Vâng.”
Tôi bưng bát lên, húp từng ngụm cháo.
Cháo khoai lang ngọt, nhưng nơi cuống lưỡi tôi lại trào lên vị đắng của nông trường muối.
Vị đắng chát của cỏ kiềm nấu lên, thấm vào tận cuống lưỡi, thấm sâu vào nơi tận cùng của ký ức, suốt mười ba năm vẫn chưa từng tan đi.
“Vân Chi, đưa dưa muối cho cha con.”
“Vâng.”
“Vân Tụ, hôm nay lúc đi thư viện tiện thể mua giúp mẹ một bánh xà phòng nhé, loại ở hợp tác xã ấy, nhãn hiệu cũ.”
“Vâng, mẹ.”
“Lão Thẩm, chiều nay chẳng phải ông đến nhà ông Hà bàn chuyện sao? Mặc bộ áo Tôn Trung Sơn màu xám ấy đi, trông cho chỉnh tề.”
“Ừ.”
Một bữa cơm, mẹ nói với chị năm sáu câu, nói với cha ba bốn câu.
Còn với tôi, chỉ có hai câu.
Một câu là “Tự múc đi”.
Một câu là “Đưa dưa muối cho cha con”.
Tôi đặt bát xuống: “Con ăn xong rồi, con về phòng đọc sách đây.”
Không đợi cha lên tiếng, tôi bưng bát vào bếp, rửa sạch rồi úp lên giá.
Về phòng, đóng cửa, dựa lưng vào cánh cửa, tôi thuận theo đó ngồi xuống sàn.
Không khóc.
Nước mắt đáng lẽ phải rơi ở kiếp trước đã cạn từ kiếp trước rồi. Gió ở vùng đất mặn kiềm sẽ thổi nước mắt thành những hạt muối bám trên mặt, đau rát như bị d.a.o cứa.
Sau đó tôi không khóc nữa.
Khóc cũng vô ích. Nước mắt rơi xuống đất, người bên cạnh còn chẳng buồn quay đầu nhìn.
Tôi ngồi trên sàn, nhắm mắt, từ từ điều chỉnh hơi thở. Sau đó đứng dậy, cầm lấy chiếc cặp.
Tôi nhét vào đó vài bộ quần áo, chỉ để chiếc cặp trông đỡ trống trải hơn.
“Mẹ, con ra ngoài một lát, tìm Quế Hương chơi.”
“Đi đi, trước bữa trưa phải về đấy.”
4.
Đường Quế Hương sống trong khu tập thể cơ quan cách đại viện ba con phố.
Cha cô ấy làm việc ở văn phòng khu phố, mẹ cô ấy phụ trách vận động thanh niên trí thức xuống nông thôn ở ủy ban khu dân cư.