“Đứa trẻ biết khóc mới có kẹo ăn.”

Tai hắn lại đỏ.

Hai năm sau, Nguyễn Thanh Ngô sửa sang một tiểu viện hồi môn bỏ không ở phía Nam thành.

Tiểu viện vốn cho một tú phường thuê, diện tích không lớn, có ba gian chính phòng và hai cây hòe cao lớn.

Ta nhờ Viên tiên sinh đề một tấm biển, viết bốn chữ “Thanh Gia Nữ Thục”.

Chữ “Thanh” lấy từ Nguyễn Thanh Ngô, chữ “Gia” lấy từ tên ta.

Sách vỡ lòng vẫn học như thường.

Ngoài ra còn dạy chữ thông dụng, toán thuật, sổ sách và khế thư.

Ai muốn học sâu thơ văn thì mời tiên sinh riêng.

Ai chỉ mong sau này không bị người ta lừa, ít nhất cũng phải biết viết tên mình, đọc hiểu danh mục hồi môn và giấy vay.

Tháng đầu chỉ có sáu học sinh.

Một người là con gái tiểu nhị cửa hàng giấy mực.

Một người là cháu gái Chương gia gửi đến sau khi mở lại cửa hàng.

Bốn người còn lại là cô nương nhà thương hộ gần đó.

Sử lão phu nhân chê mất mặt, gọi phụ thân đến khuyên.

Sau khi bị đình chức, phụ thân trầm mặc hơn nhiều.

Ông đứng ngoài cửa nữ thục, thấy ta dẫn học sinh gảy bàn tính, hồi lâu mới nói.

“Cô nương trong nhà cứ ra ngoài lộ diện như vậy, sau này rốt cuộc vẫn khó nói thân.”

Ta đẩy bàn tính sang một bên.

“Vậy không phiền người nói.”

“Ai ghét con biết tính sổ, con cũng ghét đầu óc hắn không tốt.”

Phụ thân nhíu mày, nhưng không quở trách nữa.

Trước khi đi, ông lấy trong tay áo ra một bộ toán kinh cũ, là thứ ông dùng khi còn trẻ.

“Để sách cũng chỉ bám bụi.”

Ta nhận lấy, lật xem.

“Đa tạ phụ thân.”

“Sách con nhận, hôn sự vẫn do con tự quyết.”

“Biết rồi.”

Ông chắp tay sau lưng đi ra khỏi cửa viện.

Bóng lưng so với trước kia còng xuống đôi chút.

Ta không đuổi theo, cũng không vì bộ sách này mà quên những chuyện ông từng làm.

Hôm nay nói rõ được một việc, thì chỉ tính một việc ấy.

Chúc Hạc Đình đỗ tiến sĩ trong kỳ hội thí, được bổ ra phương Nam làm huyện lệnh.

Trước khi lên đường, hắn đưa tới hai hòm giấy lớn, ngoài miệng nói là hàng cũ tồn trong cửa hàng giấy mực.

Ta mở ra nhìn.

Tất cả đều là giấy Tuyên thượng hạng trắng sạch, bền chắc.

“Huynh trưởng, hàng cũ còn thơm mùi tùng hương sao?”

“Kho hun.”

“Vậy sao giấy niêm phong lại viết là hôm qua mới xuất xưởng?”

Hắn giật phắt tờ niêm phong khỏi tay ta.

“Mắt muội sao tinh thế?”

“Mẫu thân dạy.”

Hắn không đáp được, chỉ dặn ta bớt tranh chấp với người khác, gặp việc thì báo quan trước.

Ta hỏi.

“Huynh ở phương Nam, muội đi đâu báo huynh?”

“Báo mẫu thân.”

Quả nhiên vẫn là một cách ấy.

Đến mùa hè, nữ thục đã nhận hơn hai mươi học sinh.

Trong phòng không đủ chỗ, chúng ta liền kê bàn dài dưới cây hòe.

Nguyễn Thanh Ngô rảnh thì tới dạy một buổi về khế thư.

Bà vẫn nghiêm như cũ.

Ai nói “xấp xỉ” sẽ bị bà gọi đứng lên tính lại.

Học sinh vừa sợ vừa thích bà.

Sau buổi học luôn có người vây quanh hỏi, nếu phụ thân hoặc huynh trưởng mượn của hồi môn của mình thì có nên viết giấy vay hay không, nếu bà mối nói nhà trai “hơi có chút sản nghiệp” thì phải xem thế nào.

Bà trả lời từng chuyện một, không vội vàng, cũng không qua loa.

Có một ngày tan học, trời bỗng đổ mưa rào.

Học sinh chạy hết vào hành lang, giữa sân chỉ còn đầy bàn giấy.

Ta và Nguyễn Thanh Ngô mỗi người túm một đầu khăn trải bàn, gom giấy vào giữa rồi chạy vào nhà.

Gió cuốn mấy tờ khế viết hỏng bay lên trời.

Bà đuổi theo một tờ, ta đuổi theo tờ khác.

Hai người cùng giẫm vào vũng nước, vạt váy ướt sạch.

Khó khăn lắm mới thu xong, Tứ Hỉ bưng canh gừng tới, cười chúng ta như hai con gà rơi xuống nước.

Nguyễn Thanh Ngô uống một ngụm, bỗng hỏi ta.

“Hôm nay là ngày gì?”

Ta nghĩ một lát.

Là ngày giỗ của mẫu thân ta.

Những năm nay, cứ đến ngày ấy, chúng ta đều đến nghĩa trang phía sau chùa Từ Vân.

Nhưng sáng nay nữ thục có thêm hai học sinh mới, ta bận đến quên mất giờ.

Ta đặt bát xuống.

“Bây giờ đi vẫn kịp.”

“Không vội.”

“Đợi mưa tạnh rồi đi.”

Bà lấy từ trong tay áo ra một gói giấy dầu.

Bên trong là bánh gạo hoa quế mẫu thân ta lúc sinh thời thích ăn.

Năm nào bà cũng nhớ.

Hạt mưa gõ lên ngói xanh.

Lá hòe trong sân được rửa đến sáng bóng.

Ta tựa vào vai bà.

“Mẫu thân.”

“Ừ?”

“Năm đó mẫu thân con ném con cho người, người có hận bà ấy không?”

“Có hận.”

Bà trả lời rất nhanh.

“Sau đó thì sao?”

“Sau đó phát hiện nàng đã để lại cho ta thứ tốt nhất.”

Mũi ta cay xè, cố ý nói.

“Tính con xấu thế này cũng là tốt nhất sao?”

“Miễn cưỡng tính.”

“Vậy người trả hàng đi.”

“Muộn rồi.”

Bà đưa miếng bánh gạo cuối cùng cho ta.

“Tên đã viết vào giấy vay của nhà ta, không quỵt được.”

Mưa dần nhỏ lại.

Tứ Hỉ đứng ngoài hành lang gọi, nói xe ngựa đi nghĩa trang đã chuẩn bị xong, còn có ô và trà nóng.

Nguyễn Thanh Ngô đứng dậy chỉnh lại cổ áo cho ta, lại dùng khăn lau vết mực b.ắ.n trên ch.óp mũi.

Ta khoác tay bà đi ra ngoài.

Lúc đi ngang học đường, một tiểu cô nương thò đầu qua cửa sổ, giơ tờ giấy viết hỏng hỏi.

“Chúc tiên sinh, tờ này còn cần không?”

Ta liếc một cái.

Cuối giấy vay để trống một khoảng lớn, rất dễ bị người khác thêm chữ.

“Gạch phần trống đi rồi giữ lại.”

Tiểu cô nương đáp một tiếng, nghiêm túc cúi xuống bàn.

Nguyễn Thanh Ngô đã đi trước vài bước, quay đầu giục ta.

“Vân Gia, nhanh lên.”

“Con tới đây.”

Ta chạy theo, che ô lên đầu bà.

Bà chê ta nghiêng ô về phía mình quá nhiều, lại đẩy cán ô trở lại một chút.

Trên đường đá xanh đọng nước nông.

Chúng ta bước thấp bước cao ra khỏi cửa.

Trong xe ngựa có bánh gạo hoa quế, cũng có canh mơ chua bà đã dặn nhà bếp nấu từ sáng sớm.

Ta vén rèm xe hỏi.

“Canh mơ chua có cho đường không?”

“Có.”

“Mấy thìa?”

“Ba thìa.”

“Lần trước người cũng bảo ba thìa, chua đến ê răng con.”

“Lần ấy thìa nhỏ.”

“Mẫu thân, sổ sách không thể tính như vậy.”

Bà nhịn một chút, vẫn bật cười.

Bánh xe lăn qua con phố sau mưa, chậm rãi hướng về chùa Từ Vân.

HẾT.

10 - Hứa Cho Ta Một Sân Xuân - Đọc truyện ngôn tình tổng tài bá đạo miễn phí | Lão Phật Gia