Lý Phúc cười cầu hòa.
“Đại nhân bớt giận, xin đại nhân bớt giận... Tam công t/ử nói ngài ấy và Châu tiểu thư quả thực có duyên mà không có phận, dưa hái xanh chẳng ngọt...”
“Ta nhổ vào!”
Mẫu thân ta từ phía sau lao ra, giọng cao đến mức như muốn xuyên thủng mái nhà.
“Duyên phận cái gì?”
“Chẳng qua là chê nhà ta nghèo thôi chứ gì?”
“Ban đầu sao không chê?”
“Giờ bám được vào phủ thị lang mới bắt đầu chê sao?”
Ta ngồi trong phòng trong, nghe tiếng tranh cãi bên ngoài, chậm rãi đặt khung thêu xuống.
Ta đang thêu đôi uyên ương đùa nước, mới xong được một nửa.
Ngay cả đầu uyên ương còn chưa thêu xong thì duyên phận đã tan rồi.
Ta đứng dậy, chỉnh lại y phục rồi đẩy cửa bước ra.
Chính đường thoáng chốc im phăng phắc.
Phụ thân, mẫu thân và cả Lý Phúc đều nhìn ta bằng ánh mắt thương hại đầy dè dặt.
Ta ghét nhất kiểu ánh mắt ấy.
“Lý quản gia, chỉ cần trả lại canh thiếp là được, còn sính lễ các người cứ mang đi.”
“Châu gia chúng ta tuy nghèo nhưng không có đạo lý tham sính lễ của người khác.”
Lý Phúc sững ra.
“Châu tiểu thư...”
“Còn nữa.”
Ta ngắt lời ông ta.
“Phiền ông chuyển lời đến Lý tam công t/ử, lần sau có viết thơ từ hôn thì đừng dùng bốn chữ ‘độc thiện kỳ thân’ nữa.”
“Không phải dùng như vậy đâu.”
“Nếu chàng ta thật sự muốn khoe chữ, chi bằng dùng câu ‘tề đại phi ngẫu’, chí ít còn hợp cảnh.”
Mặt Lý Phúc đỏ bừng, liên tục nhận lỗi, đặt canh thiếp xuống rồi ôm hộp chạy mất.
Phụ thân nhìn ta, môi run rẩy hồi lâu mới thốt được một câu.
“Huệ Nương, là phụ thân vô dụng.”
Ta đáp: “Cha, mì còn trong nồi, không ăn ngay sẽ khê đấy.”
Nói rồi, ta trở về phòng.
Đóng cửa lại, ta ngồi bên mép giường, nhìn bức thêu uyên ương còn dang dở thật lâu.
Ngoài cửa sổ có tiếng chim hót, tiếng trẻ con nhà bên khóc quấy, tiếng người bán tào phớ rao hàng.
Mọi thứ vẫn như thường ngày, tựa hồ hôm nay cũng chỉ là một ngày hết sức bình thường.
Ta ném khung thêu vào giỏ, nhấc tấm ván giường lên rồi mò ra một chiếc hộp gỗ nhỏ.
Mở ra, bên trong là một xấp ngân phiếu và ít bạc vụn.
Ta đếm thử, tổng cộng ba trăm hai mươi bốn lượng.
Đó là toàn bộ gia tài của ta, từ năm mười hai tuổi bắt đầu thêu khăn, làm túi thơm, chép kinh Phật thuê cho người khác, gom góp từng đồng một.
Mẫu thân không biết, phụ thân cũng không biết.
Trong mắt hai người, ta chỉ là đứa con gái thật thà đến ngốc nghếch, suốt ngày cúi đầu làm kim chỉ.
Ta nhìn những thỏi bạc ấy, trong đầu nảy ra một ý nghĩ.
Thật ra ý nghĩ này đã quanh quẩn trong lòng ta từ lâu.
Ngay từ ngày Lý Thừa Ngạn không còn tới nhà dùng cơm, ta đã nghĩ rằng dựa vào cha, dựa vào mẹ hay dựa vào nam nhân đều không bằng dựa vào chính mình.
Nhưng chỉ dựa vào bản thân cũng chưa đủ.
Ta là phận nữ nhi, chẳng thể tùy tiện ra ngoài buôn bán.
Dù ta có bằng lòng, phụ thân cũng chẳng chịu.
Chiếc mũ ô sa tòng lục phẩm của ông tuy không đáng bao nhiêu, nhưng ông không chịu nổi cảnh mất mặt ấy.
Bởi vậy, ta cần một người đứng ra làm bộ mặt cho mình.
Một người có thể thay ta xuất đầu lộ diện.
Ta trằn trọc suy nghĩ suốt đêm, lần lượt điểm qua tất cả những người mình quen trong kinh thành.
Cuối cùng, ta nghĩ tới một người.
Thẩm Nghiễn Thanh.
Danh tiếng của Thẩm Nghiễn Thanh ở kinh thành khá thú vị.
Bảo chàng có tiếng thì quả thật có tiếng.
Mười hai tuổi chàng đã đỗ tú tài, mười lăm tuổi đứng thứ ba kỳ thi hương, được vị học chính đương thời khen là “thần đồng”, lại còn ca ngợi chàng văn chương xuất chúng, cốt cách phi phàm, ngày sau ắt thành tài lớn.
Nhưng bảo chàng chẳng có danh tiếng gì thì cũng đúng.
Bởi từ đó về sau, chàng không thi đỗ thêm lần nào nữa.
Năm mười bảy tuổi thi cử nhân, trượt.
Mười tám tuổi thi lại, trượt.
Mười chín tuổi thi tiếp, vẫn trượt.
Đến năm nay, chàng đã hai mươi mốt tuổi, lần thứ tư thi hỏng.
Một thần đồng từng được tung hô tận mây xanh lại liên tiếp ngã đau bốn lần, đến mức người khắp kinh thành đều cười nhạo sau lưng.
“Thần đồng năm xưa giờ chỉ là đồ vô dụng.”
“Nghe nói cha hắn mất sớm, trong nhà chỉ còn mẹ già, phải giặt thuê quần áo cho người khác để sống qua ngày.”
“Chậc chậc, học hành đến nước ấy thì thà ra phố bán khoai lang còn hơn.”
Ta nghe những lời này ngoài chợ rau.
Vương thẩm bán rau thích nhất những chuyện tầm phào như thế, mỗi lần nhắc đến Thẩm Nghiễn Thanh đều lắc đầu thở dài.
“Đọc sách thì được ích gì?”
“Đọc đến nỗi nghèo rớt mồng tơi!”
Lần đầu ta chú ý tới Thẩm Nghiễn Thanh là nhờ một con ngõ.
Nhà ta ở phường Thường An, còn nhà Thẩm Nghiễn Thanh ở phường Vĩnh Ninh bên cạnh.
Hai con ngõ ngăn cách bởi một bức tường thấp, trên tường có chỗ sứt, vượt qua là tới sân sau nhà chàng.
Dĩ nhiên ta chưa từng trèo qua.
Chỉ là có lần đứng trên bục đá bên tường phơi chăn, vô tình nhìn sang phía ấy.
Đúng lúc ta trông thấy chàng đang ngồi đọc sách trong sân.
Sân nhà chàng rất nhỏ, nhỏ đến mức chỉ kê vừa một chiếc bàn và một cái ghế.
Trong góc sân có cây táo mọc nghiêng, trên cành treo mấy bộ y phục đã giặt đến bạc màu.
Chàng ngồi dưới gốc táo, mặc áo xanh cũ, cổ tay áo đã sờn, tay cầm sách đọc chăm chú.
Nắng xuyên qua kẽ lá táo, rải những vệt sáng lốm đốm lên người chàng.
Góc mặt nghiêng của chàng rất đẹp, sống mũi cao thẳng, đường nét cằm rõ ràng, hàng mi dài, khi cụp xuống trông như hai chiếc quạt nhỏ.
Nhưng thứ khiến ta để ý nhất không phải dung mạo chàng, mà là quyển sách trong tay.
Bốn góc sách đã quăn lên, chỉ khâu gáy cũng lỏng, có mấy trang còn được dán vá bằng những mẩu giấy.