Chàng mỉm cười, xoay người bước vào trường thi.
Ta đứng trước cổng nhìn bóng lưng ấy khuất giữa đám đông, chợt nhớ ra một chuyện.
Lúc nói câu vừa rồi, chàng không hề lắp bắp.
Một người đến lời âu yếm cũng chẳng biết nói, vậy mà trước cổng trường thi lại bỗng dưng thông suốt.
Ta đợi chàng ở ngoài trường thi suốt ba ngày.
Không phải vì ta không muốn về nhà, mà có về cũng đứng ngồi không yên.
Ta ngồi trong quán trà đối diện trường thi, gọi một ấm trà rẻ nhất, ngồi từ sáng đến tối.
Bà chủ quán quen mặt ta, bưng cho ta một đĩa hạt dưa, bảo.
“Nương t/ử đối xử với tướng công nhà mình tốt thật đấy.”
Ta đáp: “Chàng đối xử với ta còn tốt hơn.”
Ba ngày sau, Thẩm Nghiễn Thanh bước ra khỏi trường thi.
Sắc mặt chàng bình tĩnh, chẳng nhìn ra thi tốt hay không.
Ta tìm được chàng giữa đám đông, chàng trông thấy ta thì hơi ngạc nhiên.
“Sao nàng đến đây?”
“Chẳng phải ta đã dặn nàng đợi ở nhà sao?”
“Ở nhà không ngồi yên nổi.”
Ta đáp.
“Thi thế nào rồi?”
Chàng nghĩ một lát.
“Không biết.”
“Nhưng có một điểm khác bốn lần trước.”
“Điểm gì?”
“Bốn lần trước vừa bước ra, ta đều cảm thấy chắc chắn mình sẽ đỗ.”
“Lần này bước ra lại cảm thấy có lẽ mình sẽ trượt.”
“... Đấy là đạo lý gì?”
“Trước kia là tự tin, bây giờ là tự biết mình.”
Chàng nói.
“Trước kia ta nghĩ mình cái gì cũng biết, thi không đỗ là do quan chấm thi không có mắt.”
“Bây giờ ta biết mình còn thiếu sót chỗ nào, ngược lại chẳng tự tin như trước nữa.”
Ta gật đầu, hiểu được ít nhiều.
“Đi thôi, về nhà.”
Ta bảo.
“Ta nấu cho chàng một nồi canh sườn, hầm suốt ba canh giờ, xương cũng mềm rồi.”
“Lấy sườn ở đâu?”
“Mua chứ đâu.”
“Tốn bốn mươi đồng đấy.”
“Bốn mươi đồng?”
“Nàng bị người ta c/h/é/m giá rồi phải không?”
“Sườn ở chợ đắt nhất cũng chỉ ba mươi đồng...”
“Thẩm Nghiễn Thanh, chàng có thể đừng làm người ta mất hứng thế không?”
“... Được rồi, về uống canh.”
Ngày yết bảng, ta không đi xem.
Không phải không muốn, mà là không dám.
Ta ngồi ở nhà, cầm khung thêu, thêu từng mũi một đóa mẫu đơn.
Thêu được một lúc, tay ta bắt đầu run, mũi kim đ/â/m lệch mấy lần.
Thẩm Nghiễn Thanh cũng không có nhà.
Từ sáng sớm chàng đã ra ngoài, nói là đến hiệu sách trả một quyển sách.
Nhưng ta thấy khi bước ra cửa, mặt chàng trắng bệch như giấy.
Ta biết chàng còn căng thẳng hơn cả ta.
Đến giờ Tỵ ba khắc, ta nghe đầu ngõ vang lên tiếng người huyên náo.
Tiếp đó là tiếng bước chân, rất nhiều tiếng bước chân, mỗi lúc một gần.
Tim ta như nhảy lên tận cổ họng.
Rồi cửa bị đẩy ra.
Thẩm Nghiễn Thanh đứng ở ngưỡng cửa.
Vẻ mặt chàng rất lạ, chẳng vui cũng chẳng buồn, mà là một vẻ ngơ ngác.
Giống như vừa bị ai giáng một gậy vào đầu, còn chưa hiểu chuyện gì xảy ra.
“Thế nào rồi?”
Giọng ta run rẩy.
Chàng nhìn ta, môi mấp máy mà không nói.
Tim ta đ/á/n/h thót.
Lại trượt rồi.
Lần thứ năm rồi.
Ta đặt khung thêu xuống, đứng dậy đến trước chàng, nắm lấy tay chàng.
Bàn tay ấy lạnh buốt, đầu ngón còn khẽ run.
“Không sao đâu.”
Ta nói.
“Không đỗ thì thôi.”
“Chúng ta vẫn còn việc làm ăn với hiệu sách, ngày tháng vẫn cứ trôi qua.”
“Chàng đừng...”
“Huệ Nương.”
Chàng ngắt lời ta.
“Ừ?”
“Đỗ rồi.”
“... Sao cơ?”
“Đỗ rồi.”
Giọng chàng chợt khàn đi.
“Đứng thứ ba mươi bảy.”
Đầu ta ong lên.
“Chàng... chàng nói gì?”
“Ta nói ta thi đỗ rồi.”
Chàng chợt nở nụ cười, nụ cười dần rạng rỡ như băng tuyết tan đi.
“Cử nhân.”
“Thứ ba mươi bảy.”
“Huệ Nương, ta đỗ rồi!”
Rồi chàng nhấc bổng ta lên.
Thật sự nhấc bổng lên, hai tay đỡ lấy eo ta, đưa ta lên cao như bế một đứa trẻ.
“Thẩm Nghiễn Thanh, chàng mau thả ta xuống!”
“Chàng điên rồi!”
“Hàng xóm trông thấy bây giờ...”
“Cứ để họ nhìn!”
Chàng ngửa đầu nhìn ta, trong mắt ánh lên thứ gì sáng lạ thường.
“Huệ Nương, ta đỗ rồi!”
“Ta là cử nhân rồi!”
Bị chàng nâng giữa không trung, nước mắt ta trào ra như mưa.
“Chàng thả ta xuống đi...”
“Không thả.”
“Thẩm Nghiễn Thanh!”
“Gọi là tướng công.”
“... Tướng công, thả thiếp xuống đi, thiếp ch/óng mặt.”
Lúc ấy chàng mới chịu đặt ta xuống, nhưng bàn tay vẫn nắm lấy cổ tay ta không buông.
“Huệ Nương.”
Chàng nói.
“Cảm ơn nàng.”
“Cảm ơn ta chuyện gì?”
“Cảm ơn nàng vì hôm ấy đã đến gõ cửa nhà ta.”
Nước mắt ta lại trào ra.
Ta cố hít mũi thật mạnh, bảo.
“Nếu chàng thật lòng muốn cảm ơn ta thì mau đi mua một con cá về.”
“Ta muốn ăn cá kho.”
“Được.”
Chàng đáp.
“Mua hai con.”
Sau khi Thẩm Nghiễn Thanh đỗ cử nhân, cuộc sống của chúng ta thay đổi một trời một vực.
“Chế Nghệ Tinh Túy” bán chạy như tôm tươi, không chỉ bán được ở kinh thành mà còn lan đến Nam Kinh, Tô Châu, Hàng Châu.
Chủ Tập Văn Trai kiếm được bộn tiền, phần chia lãi của Thẩm Nghiễn Thanh cũng ngày một tăng.
Đến cuối năm, hai vợ chồng đã dành dụm được hơn ba trăm lượng.
Họ hàng, láng giềng từng tránh chúng ta như tránh tà bỗng dưng ai nấy đều nhiệt tình.
Người mang trứng gà tới, kẻ đem thịt muối, thậm chí còn có người tặng cả một tấm lụa.
“Châu tẩu, tướng công nhà tẩu thật có tiền đồ!”
“Tôi đã bảo rồi mà, đứa trẻ Nghiễn Thanh từ nhỏ đã khác người!”
“Còn phải nói!”
“Tôi đã biết thằng bé Thẩm gia sau này nhất định sẽ làm nên chuyện lớn!”
Nghe những lời ấy, ta cười đến mức mặt gần như cứng đờ.
Ai ngày trước bảo “nồi vỡ úp vung thủng”?
Ai chê “nghèo kiết lấy nghèo xác”?
Nhưng ta chẳng định tính toán với họ.
Không phải vì ta rộng lượng, mà vì so đo những chuyện ấy chẳng có ý nghĩa gì.
Có thời gian ấy, thà ngồi thêu thêm hai đóa hoa còn hơn.
Người khiến ta bất ngờ nhất chính là Lý Thừa Ngạn.
Chàng ta lại đến thăm.
Chiều hôm ấy, Lý Thừa Ngạn mặc một bộ áo gấm mới tinh, xách hộp quà tinh xảo tìm tới tận nhà.