Trong ký ức của Tiểu Liễu, xưởng tương nhà họ Tào là một nơi rất lớn, cũng vô cùng náo nhiệt.
Ngoài dầu tương và bã tương, thứ chủ yếu cửa hàng bán chính là tương.
Tương, chính là đứng đầu trong bát trân.
Đến cả Khổng Thánh Nhân cũng từng nói: "Thịt cắt không ngay ngắn thì không ăn, không có tương thì không ăn."
Phong tục dùng tương trong các món ăn của bách tính đã có từ rất lâu.
Việc làm ăn của xưởng tương nhà họ Tào vô cùng phát đạt. Ở hậu viện có hơn năm mươi chum tương lớn để bán. Mỗi chum đều đội một chiếc nón cói lớn như ngư ông, xếp kín khắp cả sân.
Những chiếc chum màu than chì ấy còn cao hơn cả Tiểu Liễu.
Ở trước mặt La thị, Tào Ma Rỗ không dám ngẩng đầu, nhưng khi làm chưởng quầy thì tuyệt không hề qua loa.
Ngoài việc trông coi công việc ở tiền viện và hậu viện, ông còn tự mình dẫn theo các tiểu nhị làm tương, cho vào chum, rồi trải qua những ngày phơi nắng đêm hứng sương, lên men, sau đó mới đóng vào vò.
Quá trình ấy vô cùng vất vả. Mỗi ngày, các tiểu nhị đều phải dùng mái chèo khuấy tương ra sức đảo trộn, không được phép lười biếng.
Tương của xưởng nhà họ Tào nổi danh khắp nơi.
Các loại tương cũng rất phong phú, chia thành tương thịt và tương muối.
Tương thịt lại chia làm bảy loại, chủ yếu dùng thịt cá, thịt thỏ, thịt ngỗng trời, thịt ếch, trai, trứng kiến và thịt heo để chế thành tương.
Còn tương muối ngoài tương bột và tương đậu, còn có rau cần nước, cải trắng, măng cùng các loại rau được muối thành dưa.
Bởi vậy, xưởng tương quanh năm tràn ngập mùi chua lên men của tương.
La thị ghét nhất chính là mùi ấy.
Ngoài năm tiểu nhị trẻ tuổi, xưởng tương nhà họ Tào còn có Hồ đại thúc làm việc vặt, cùng Trương bà bà tuổi đã xế chiều.
Răng của Trương bà bà gần như đã rụng hết, đi đường cũng run run rẩy rẩy.
Bà là người năm xưa Tào Ma Rỗ nhặt được trên đường, khi còn gánh tương đi khắp hang cùng ngõ hẻm để bán.
Tiểu Liễu vẫn luôn cảm thấy, ngoại trừ dung mạo không đẹp, cha nàng chỗ nào cũng tốt.
Lúc ông ngồi ở tiền viện xem sổ sách, nếu gặp ăn mày đến cửa xin cơm, ông cũng không xua đuổi.
Thậm chí trong cửa hàng còn có một chiếc nồi lớn luôn đặt ở đó quanh năm để nấu cháo.
Những gia đình nghèo khó trong trấn không có cơm ăn đều biết chỉ cần đến đây là có thể xin được một bát cháo.
Cha nàng cũng là người số khổ.
Thuở nhỏ ông bị kẻ xấu bắt cóc, suýt nữa đã bị bọn chúng bắt làm người tàn phế. May nhờ mắc bệnh đậu mùa nên mới giữ được mạng sống.
Ông không cha không mẹ, không người thân thích. Sau khi nhặt được Trương bà bà, hai người nương tựa lẫn nhau mà sống, xem nhau như mẹ con.
Tiểu Liễu rất thích Trương bà bà.
Thế nhưng La thị lại không thích bà.
Cha nàng từng đề nghị để Trương bà bà chuyển đến nhà trong ngõ Đá ở, nói rằng bà đã lớn tuổi, ở cửa hàng sẽ không tiện chăm sóc.
La thị trừng đôi mắt hạnh, lập tức nổi giận.
Bà nói: "Ngươi thích nhận ai làm mẹ thì cứ việc nhận. Nhưng đừng hòng đem thứ dơ bẩn hôi hám ấy đến chỗ ta. Nếu còn dám nhắc chuyện này nữa, ta quyết không để yên cho ngươi."
Thấy bà nổi giận, cha nàng lập tức không dám nói thêm lời nào.
Trương bà bà cũng không thích La thị.
Tiểu Liễu thường nghe bà không vui mà càm ràm với cha:
"Con đúng là tạo nghiệt! Thiếu gì người không cưới, cứ nhất quyết tham dung mạo của nàng ta. Đẹp thì có ích gì? Đến cửa nhà cũng chẳng cho con bước vào..."
Bà bà rất thương cha.
Bà xem ông như con trai ruột. Đã một đống tuổi rồi mà vẫn run run rẩy rẩy đến phòng ông nhặt quần áo bẩn mang đi giặt.
Những khi Tiểu Liễu ở lại xưởng tương, nàng đều ngủ cùng phòng với bà.
Bà bà tuổi đã cao, lúc nào cũng thích lải nhải. Tiểu Liễu thường nghe bà một mình tự nói, trong lời nói phần nhiều là trách mắng La thị, hoặc mắng cha bị ma quỷ mê hoặc tâm trí.
Có một lần, bà nói đến mức chính mình cũng kích động, bỗng ôm lấy Tiểu Liễu mà khóc:
"Lúc trước nó như bị quỷ che mắt, ai khuyên cũng không nghe. Nó nói mình ngói vỡ cũng mặc, hai bàn tay trắng, dù sao cũng chỉ có cái mạng rẻ mạt này. Nhưng nó đâu có nghĩ, nếu người ta không có mưu đồ khác thì ai lại chịu làm cái chuyện lỗ vốn ấy với nó? Cái mạng của nó đáng giá được mấy đồng chứ..."
"Liễu à, đây đều là số mệnh. Bà bà cũng chẳng quản nổi. Bà bà còn chẳng biết mình có thể sống được đến ngày nào nữa..."