Không lâu sau, quản sự bưng cây trâm vàng còn dính bùn vào phòng, phía sau áp giải một nam nhân mặc áo xám.
Xuân Hạnh mềm nhũn trên đất, khóc lóc nói mình chỉ muốn dành dụm chút của hồi môn, vì Khương Chiếu Vi đối xử hà khắc nên nhất thời hồ đồ.
Lời này lại đẩy Khương Chiếu Vi lên đầu sóng ngọn gió.
Nàng vội vàng giải thích, nói tiền tháng của Xuân Hạnh chưa từng thiếu một đồng.
Ta thuận miệng bổ sung: “Thiếu hay không, lật sổ sách ra là biết.”
“Nha hoàn trong hầu phủ mỗi tháng đáng được bao nhiêu, viện của muội phát bao nhiêu, tra rõ là xong.”
Khương Chiếu Vi chợt nhìn ta, trong mắt cuối cùng không còn vẻ giả vờ.
Ta đứng dậy đi tới trước mặt nàng, phủi đi chút tro đèn rơi trên vai nàng.
“Muội muội, muốn chụp cho ta cái mũ trộm cắp thì trước tiên hãy quản cho tốt người trong viện mình.”
“Muội dùng nàng ta để giăng bẫy hại ta, lại tiếc không chịu cho thêm vài đồng tiền, nàng ta đương nhiên sẽ trở mặt giữa trận.”
“Lòng người đắt hơn cây trâm, món sổ này muội tính lỗ rồi.”
Mặt Khương Sùng đen như đáy nồi.
La thị muốn giảng hòa, hé miệng mấy lần, cuối cùng chỉ sai người kéo Xuân Hạnh xuống bán đi.
Ta giơ tay ngăn lại: “Nàng ta trộm đồ, nên bồi thường thì bồi thường, nên phạt thì phạt.”
“Nhưng nàng ta chịu người khác sai khiến, chủ mưu còn chưa tra rõ đã vội bán người, hầu phủ định thay ai diệt khẩu?”
Xuân Hạnh vừa khóc vừa dập đầu, khai hết chuyện Khương Chiếu Vi đã hứa hẹn thế nào, sai nàng nhét cây trâm vào viện của ta ra sao.
Khương Chiếu Vi mềm người ngã vào lòng La thị, miệng kêu oan.
Nước mắt La thị lúc này cuối cùng mới thật thêm vài phần, nhưng bà vẫn theo bản năng che chở cho nàng.
Ta không có hứng xem cảnh mẫu nữ tình thâm, bèn chìa tay về phía Khương Sùng.
“Cha, nửa đêm nhận đơn thì phải thu quẻ kim.”
Ông sững người.
Ta nghiêm túc nói: “Nể tình người một nhà, mười lượng là được.”
Sau đêm ấy, trên dưới hầu phủ đều biết nhị cô nương mới trở về biết xem mệnh, còn biết tính sổ.
Khương Sùng đưa ta mười lượng bạc, sắc mặt như vừa nuốt mười con ruồi.
Hôm sau, La thị phái một ma ma dạy quy củ tới, nói ta đã về phủ thì sau này phải học nữ công, lễ nghi, quản gia, không được nói những lời thần thần quỷ quỷ nữa.
Ta nghe xong liền hỏi ma ma: “Học những thứ này có tiền tháng không?”
Ma ma nghiêm mặt: “Hầu phủ lo ăn lo mặc cho cô nương, sao cô nương có thể mở miệng ngậm miệng đều là bạc?”
“Vậy thôi.”
Ta đẩy khung thêu bà ta đưa tới trở về: “Việc không có tiền công, ta không nhận.”
Ma ma tức đến run người, chạy đi mách tội.
La thị tự mình tới một chuyến, giọng mềm hơn nhiều: “Thê Nguyệt, mẹ biết con ở bên ngoài chịu khổ, nhưng nhà chúng ta là môn hộ như vậy, cô nương gia vẫn phải có dáng vẻ của cô nương gia.”
“Con bày quẻ trong viện cho hạ nhân, truyền ra ngoài người ta sẽ nhìn hầu phủ thế nào?”
Ta bày một chiếc bàn vuông nhỏ dưới hành lang, trên bàn đặt ba đồng tiền và một tấm bảng gỗ viết: “Một quẻ một lượng, già trẻ không lừa.”
“Mẹ, người ngoài nhìn hầu phủ thế nào là chuyện của họ.”
“Hầu phủ nhìn con thế nào mới là chuyện của con.”
Sắc mặt La thị trắng đi.
Ta nói rõ hơn: “Mọi người đón con về là vì sợ hoàng thất truy hỏi tung tích đứa trẻ trong tã năm xưa, cũng sợ người khác nói hầu phủ bạc đãi huyết mạch ruột thịt.”
“Nếu hầu phủ cần con trở về để chống đỡ cái danh phận này, vậy đừng vừa chê con chướng mắt, vừa bắt con che giấu chuyện xấu hổ cho mọi người.”
Bà im lặng rất lâu, chỉ để lại một câu “tính con quá cứng”, rồi quay người rời đi.
Trong lòng ta không gợn sóng gì.
Thứ gọi là tình thân, ta đã nhìn thấu từ khi còn trên núi.
Lúc sư phụ nhặt ta về từng nói, cung phụ mẫu trong mệnh ta nhạt, cưỡng cầu cũng không có được dịu dàng, chi bằng tự nuôi mình cho tốt.
Hiện giờ ta ăn no mặc ấm, còn có thể kiếm bạc, đã tốt hơn nhiều so với ngày ở trên núi phải hái t.h.u.ố.c đổi gạo.
Mở quẻ sạp chưa được mấy ngày, thím Hồ trong bếp lén nhét cho ta nửa lượng bạc vụn, hỏi đứa con trai mất tích của bà có phải bị sòng bạc giữ lại hay không.
Ta gieo ba đồng tiền, nói người không ở sòng bạc mà ở lò gạch cũ phía nam thành, chân trái bị thương, bên cạnh có một người trẻ mặc áo vải xanh.
Thím Hồ khóc chạy đi, đến chiều đã khiêng con trai trở về.
Thiếu niên ấy đúng là có nợ c.ờ b.ạ.c, nhưng bị đồng bọn lừa tới lò gạch làm khổ sai.
Thím Hồ mang một giỏ bánh bao thịt nóng hổi tới cảm tạ ta, nhất quyết nhét thêm một lượng bạc.
Ta nhận bạc, còn bánh bao thì chia cho mấy tiểu nha hoàn quét tuyết trong viện.
Sau khi thím Hồ tìm được con, quản sự chuồng ngựa tới hỏi chuyện sổ sách bị mất, mưu sĩ của Khương Sùng cũng lén nhờ ta xem vận thế cho ông ta.
Ngay cả Tần ma ma nghiêm khắc nhất bên cạnh La thị cũng xách một gói điểm tâm tới hỏi, tiểu tôn nữ của bà có thể qua nổi mùa đông hay không.
Ta thấy ấn đường bà tối, liền hỏi gần đây cháu gái có phải thường xuyên ho, ban đêm còn thở khò khè hay không.
Tần ma ma gật đầu liên tục.
“Đừng xông thứ an thần hương linh tinh ấy trong phòng nữa.”
“Trong đó trộn trầm hương kém phẩm, xông lâu sẽ hại phổi.”
“Mở hé cửa sổ một khe, lấy trần bì và xuyên bối nấu nước, ngày mai tới Hồi Xuân đường phía đông thành tìm đại phu họ Đỗ.”
Ba ngày sau, Tần ma ma quỳ trước cửa ta, nước mắt giàn giụa, nói cháu gái đã hạ sốt.
Từ hôm ấy, trước quẻ sạp của ta không còn lúc nào vắng người.