Cuộc chiến tranh giành ngai vàng ấy đã kéo dài suốt bao nhiêu năm trời ta căn bản chẳng nhớ nổi nữa, chỉ biết rằng từng đàn bồ câu đưa thư bay qua nóc lều trại càng lúc càng trở nên thưa thớt dần. Bản thân ta cũng càng lúc càng chẳng còn tha thiết muốn bước chân vào kinh thành Kim Lăng nữa, kỳ thực nghĩ đi nghĩ lại, cuộc đời rong ruổi trên lưng ngựa nơi thảo nguyên Mạc Bắc thanh bình tự tại này cũng tốt đẹp biết bao nhiêu.
Thế nhưng ta thừa hiểu rất rõ ràng rằng nhị ca tuyệt đối vĩnh viễn không bao giờ cam tâm ở lại mảnh đất cằn cỗi này: Huynh ấy chưa từng có một ngày nào nguôi ngoai mối thù diệt môn đẫm m.á.u của Thẩm gia, chưa từng có một ngày nào quên được cảnh tượng t.h.i t.h.ể đại ca bị vó ngựa quân thù giày xéo nát bấy, và chưa từng có một ngày nào quên mất rằng: Bản thân huynh ấy vốn dĩ sinh ra đã mang số mệnh là một vị vương công kiêu hãnh và quyền uy nhất của kinh thành Kim Lăng!
Ta đã từng rất muốn mở miệng khuyên can nhị ca buông bỏ bớt thù hận, người ngoài nhìn vào có lẽ chẳng nhận ra điều bất thường, thế nhưng ta biết rất rõ huynh ấy đang từng bước lún sâu vào vũng lầy tăm tối của sự cuồng loạn và thù hận không lối thoát. Đôi khi ta ngây thơ thầm nghĩ: Giá như năm xưa người mà Tạ Tinh đem lòng say đắm là nhị ca thì tốt biết mấy, như vậy thì cõi lòng huynh ấy có lẽ đã vơi bớt đi muôn phần thống khổ và giằng xé.
Thành Kim Lăng bị công phá sụp đổ vào một ngày đẹp trời nằm ngoài toàn bộ dự liệu của ta.
Ngày hôm ấy trời quang mây tạnh, gió mát trăng thanh, quả thực là một ngày vô cùng không thích hợp để đao kiếm c.h.é.m g.i.ế.c binh đao, thế nhưng trớ trêu thay, lại có một chàng thanh niên tuấn tú bí mật đem bản đồ bố phòng quân sự nội bộ thành Kim Lăng đến dâng nộp tận cửa đại doanh ngoại ô.
Thuở ấy ta chỉ đứng từ xa nhìn thấy bóng lưng kiên nghị, thẳng tắp như cây tùng của chàng quỳ rạp dưới thềm trước mặt nhị ca, bóng lưng ấy trông sao mà lại quen thuộc đến lạ kỳ: "Đây là bản đồ bố phòng do đích thân ta nhẫn nhục nằm vùng suốt ba tháng ròng rã bên trong phủ Thái t.ử đ.á.n.h cắp ra được, công t.ử nếu như không tin tưởng thì cứ việc vung gươm c.h.é.m đầu ta ngay tức khắc! Ta chỉ cầu xin công t.ử sau khi công phá đoạt lấy Kim Lăng, tuyệt đối không được phép buông tha cho tên con trai của Đô úy tâm phúc Thái t.ử, cái thứ súc sinh ấy đã làm nhục người con gái mà ta hết mực yêu thương say đắm, ép nàng ấy phải uất ức tự vẫn quyên sinh! Mối thù m.á.u này dẫu cho Lục Hoài ta chỉ còn lại một hơi thở tàn cuối cùng, ta thề cũng nhất định phải bắt hắn nợ m.á.u phải trả bằng m.á.u!"
Đứng từ xa ngắm nhìn bóng lưng chàng thanh niên tên Lục Hoài ấy, kỳ lạ làm sao, trong l.ồ.ng n.g.ự.c ta lại một lần nữa không tài nào kiềm chế nổi mà khẽ rung lên từng đợt sóng thổn thức dữ dội.
Một khi trái tim đã rung động thì bắt buộc phải hành động quyết đoán, chính vì vậy vào cái ngày nhị ca chính thức bước lên ngôi cửu ngũ chí tôn và sắc phong cho ta làm Gia Ngôn Công chúa, việc đầu tiên ta làm chính là cầu xin nhị ca ban hôn cho ta cùng Lục Hoài - người lúc bấy giờ trên danh nghĩa chỉ là một cử t.ử nghèo chờ thi cử nhưng thực chất đã trở thành mưu sĩ tâm phúc hàng đầu của hoàng đế.
Thời điểm ấy ta căn bản không tài nào hiểu nổi ánh mắt sâu thẳm đầy vẻ thâm trầm của nhị ca nhìn ta khi nghe lời thỉnh cầu ấy, mãi cho đến tận những năm tháng cuối đời bên cạnh Lục Hoài, ta mới thực sự cay đắng thấu suốt.
Nhị ca biết rất rõ ràng rằng ta sắp sửa tự mình lao đầu vào một hố sâu tuyệt vọng không lối thoát, hệt như chính bản thân huynh ấy năm nào. Thế nhưng hai anh em nhà họ Thẩm chúng ta vốn dĩ đều là những kẻ mang tính khí ương ngạnh: chưa đ.â.m đầu vào tường đá chảy m.á.u trán thì tuyệt đối chưa chịu quay đầu, chính vì vậy huynh ấy đã lạnh lùng để mặc cho ta tự mình đi đ.â.m đầu vào tường đá.
Ví dụ như vào cái đêm đăng quang ngai vàng, huynh ấy từng trầm giọng hỏi ta rằng có nên dùng vũ lực cường bạo để ép Tạ Tinh vào hậu cung làm phi tần hay không.
Ta đảo mắt khinh bỉ liếc huynh ấy một cái, kỳ thực trong thâm tâm huynh ấy đã sớm có câu trả lời dứt khoát cho riêng mình rồi, chẳng qua chỉ là đang muốn tìm kiếm một cái cớ hợp tình hợp lý để tự lừa dối lương tâm mình mà thôi, với tư cách là một người muội muội ruột thịt, ta mỉm cười cay đắng khuyên huynh ấy: "Giang Lăng Nguyệt và Tạ Tinh vốn dĩ là một đôi lưỡng tình tương duyệt sâu sắc, hoàng huynh nên hạ chỉ ban hôn tác hợp cho hai người bọn họ đi thôi, dùng binh quyền của Giang gia để kiềm tỏa thế lực của Tạ gia, như vậy Tạ gia sẽ không thể một mình xưng bá, và người còn có thể nhân cơ hội đó nâng đỡ các văn thần hàn môn khác bước lên vũ đài chính trị. À đúng rồi đấy, Lục Hoài chính là một sự lựa chọn vô cùng hoàn hảo đấy ạ."
Ta vô cùng đau đớn nhưng chưa từng bao giờ có lấy nửa phần ân hận khi bàng hoàng nhận ra rằng: Kể từ cái khoảnh khắc ba người chúng ta cùng nhau quay trở lại thành Kim Lăng - mảnh đất phồn hoa mà nhị ca và Giang Lăng Nguyệt ngày đêm mong mỏi khao khát trở về, thì ba đứa chúng ta đã vĩnh viễn không bao giờ có thể quay trở lại những tháng ngày hồn nhiên vô tư như thuở ban đầu được nữa rồi.
Hơn thế nữa, nàng Tạ Tinh ấy quá đỗi rực rỡ và xán lạn, một sự xán lạn ch.ói lòa đến mức khiến cho một người phụ nữ kiêu kỳ như ta phải dâng lên nỗi ghen tị điên cuồng.
Thuở còn ở chốn biên ải Mạc Bắc, nàng thường xuyên gửi thư qua lại đàm đạo cùng Giang Lăng Nguyệt: từ thi ca phú họa cho đến mưu lược chính trị, từ những tập truyện thoại bản thời thượng cho đến những bí mật triều chính thâm sâu, nàng đều có thể viết nên những lời văn trôi chảy xuất chúng. Đến ngay cả người nhị ca quanh năm dựng lên bức tường thành sắt đá đề phòng cả thiên hạ của ta, mỗi lần chặn đọc trộm những lá thư ấy của nàng, nơi khóe mắt cũng không giấu nổi những tia nhìn dịu dàng đong đầy tình ý thâm sâu.
Chưa kể nàng Tạ Tinh ấy thậm chí còn dốc cạn tâm can dâng tặng toàn bộ bản vẽ thiết kế công thành thê (thang mây công thành) do chính tay nàng cặm cụi nghiên cứu suốt bao năm trời cho nghĩa quân, một cô nương khuê các chốn thâm cung cấm chỉ như nàng, cớ sao tầm nhìn và trí tuệ lại có thể vươn xa và xuất chúng hơn cả một đứa con gái xông pha trận mạc như ta cơ chứ?!
Sự thua kém ấy khiến cho tâm can ta vô cùng khó chịu và bức bối, và cái cảm giác ghen tị nghẹt thở ấy đã chính thức bùng nổ lên đến đỉnh điểm sau khi ta thành thân cùng Lục Hoài.
Tạ Tinh và Giang Lăng Nguyệt càng ân ái mặn nồng keo sơn bao nhiêu, thì cuộc hôn nhân 'tương kính như tân' khách sáo lạnh lẽo giữa ta và Lục Hoài lại càng trở nên châm chọc và cay đắng bấy nhiêu.
Ta đã từng vô cùng tự phụ đinh ninh nghĩ rằng bản thân mình đường đường là một vị Công chúa tôn quý thì thừa sức chiến thắng được một người phụ nữ đã c.h.ế.t trong quá khứ của trượng phu, thế nhưng toàn bộ sự kiêu hãnh ngút ngàn ấy đã hoàn toàn vỡ vụn thành trăm mảnh vào cái đêm Lục Hoài nồng nặc men rượu sau bữa tiệc bước chân về phòng, chàng bất ngờ ôm c.h.ặ.t lấy thân hình ta vào lòng, miệng không ngừng nghẹn ngào gọi vang từng tiếng: "A Ngọc... A Ngọc của ta ơi..."
"Thiếp là Thẩm Chiêu Chiêu! Là Chiêu Chiêu cơ mà! Lục Hoài ơi, chàng hãy mở mắt ra mà gọi tên Chiêu Chiêu đi chàng!"
"Chiêu Chiêu... Chiêu Chiêu là ai thế hả nàng?" Lục Hoài ngơ ngác hỏi lại trong cơn say.
Ta bật cười trong làn nước mắt cay đắng: Chiêu Chiêu là ai ư? Chiêu Chiêu chính là cô nương ngây thơ năm xưa từng tình cờ gặp gỡ chàng bên quán mì Dương Xuân nơi ngõ Trường Can, trái tim đã vì chàng mà rung động thổn thức suốt bao năm tháng mà chính bản thân chàng chẳng hề hay biết đấy thôi!
Về sau này khi nhị ca tìm đến gặp riêng ta, cười nhạt bảo rằng thế lực của Tạ gia ngày càng bành trướng lớn mạnh và huynh ấy chuẩn bị ra tay diệt tộc, ta đã vô cùng dứt khoát cất lời đáp lại: "Được thôi! Thế nhưng muội có một điều kiện duy nhất: Sau khi xong việc, chiếc ghế Thượng thư đầu triều bắt buộc phải trao lại cho Lục Hoài ngồi!"
Triều đại phong kiến cũ năm xưa sụp đổ chính là vì sự lộng quyền bành trướng của các môn phiệt thế gia, giờ đây tám đại thế gia lần lượt bị thanh trừng tiêu diệt, thì việc Tạ gia bị chu diệt cũng chỉ là chuyện sớm muộn mà thôi, điều đó ta hiểu quá rõ ràng.