Chỉ trong một đêm, phụ thân ta đã rước về phủ bảy phòng thiếp, khiến cả kinh thành đều xôn xao bàn tán, ai nấy đều chờ xem ta, đích nữ duy nhất của Tĩnh Bình hầu phủ, sẽ bị những người đàn bà mới đến ấy giày vò, chèn ép đến mức nào.
Nào ngờ, ngay ngày đầu tiên bước chân vào phủ, bảy người họ chẳng những không tranh sủng hay khóc lóc làm loạn, mà còn kéo nhau đến bên cạnh ta, ngồi quây thành một vòng như thể đã hẹn trước.
Phương di nương hỏi: "Cô nương có đọc hiểu sổ sách không?"
Nhạc di nương tiếp lời: "Cưỡi ngựa có vững không?"
Bạch di nương phe phẩy chiếc quạt tròn trong tay, mỉm cười hỏi: "Thế có biết cãi nhau không?"
Ta nhìn hết người này đến người khác, cuối cùng chỉ biết thành thật lắc đầu.
Cả bảy người đồng loạt thở dài, vẻ mặt chẳng khác nào vừa gặp phải một vấn đề vô cùng nan giải.
Phương di nương đặt chiếc bàn tính đang cầm xuống bàn, nghiêm túc kết luận: "Đứa trẻ này còn phải học bù nhiều lắm đây."
Năm mẫu thân qua đời, ta mới mười ba tuổi.
Người ra đi rất lặng lẽ, chẳng hề báo trước, cũng không để lại cho ta cơ hội nói thêm một lời từ biệt.
Tối hôm trước, mẫu thân vẫn còn dịu dàng vuốt tóc ta, khẽ dặn: "Chiêu Nhi, sau này gặp chuyện gì cũng đừng khiếp sợ."
Vậy mà sáng hôm sau, khi trời còn chưa kịp hửng sáng, người đã vĩnh viễn rời xa ta.
Trên dưới cả Hầu phủ chìm trong tiếng khóc thương, từ chủ t/ử đến hạ nhân đều đau lòng khôn xiết.
Phụ thân quỳ trước linh đường suốt một ngày một đêm, không chịu đứng dậy, cũng chẳng buồn để ý đến bất cứ ai đến khuyên nhủ.
Khi ấy, ta cứ ngỡ cả đời này người sẽ không bao giờ tục huyền, bởi tình nghĩa sâu nặng giữa phụ thân và mẫu thân vốn là chuyện mà không một ai trong kinh thành không biết.
Mẫu thân ta xuất thân từ một gia đình thương nhân.
Năm xưa, khi người gả cho phụ thân, không ít kẻ ở sau lưng bàn tán rằng người trèo cao, một nữ t/ử xuất thân thương hộ mà lại có thể bước chân vào nhà võ tướng.
Phụ thân khi đó vẫn chỉ là một vị tướng quân trẻ tuổi, tính tình cứng rắn, lại đặc biệt không chịu nổi chuyện có người nói xấu thê t/ử.
Hễ nghe ai buông lời dị nghị về mẫu thân, người liền tìm đến tận cửa, nhất quyết tranh luận cho ra lẽ mới thôi.
Sau này, phụ thân lập được chiến công hiển hách, được triều đình sắc phong làm Tĩnh Bình hầu.
Những kẻ năm xưa từng chê bai mẫu thân lập tức đổi giọng, bắt đầu khen người có phúc khí, gả được cho một vị phu quân vừa có bản lĩnh vừa có tiền đồ.
Mẫu thân nghe những lời ấy cũng chẳng tức giận hay đắc ý, chỉ cười bảo: "Có phúc khí hay không thì ta chẳng dám chắc, dù sao con người chàng ấy cũng tạm được."
Phụ thân tình cờ nghe thấy, lập tức tỏ vẻ không vui.
"Cái gì gọi là tạm được?"
Mẫu thân liếc người một cái, thản nhiên đáp: "Đang khen chàng đấy."
Thế là phụ thân lập tức im bặt, chẳng còn lời nào để phản bác.
Những năm tháng ấy, ta luôn cho rằng cuộc sống của gia đình mình sẽ mãi bình yên như thế.
Phụ thân và mẫu thân có thể thỉnh thoảng trêu chọc, đấu khẩu với nhau, còn ta sẽ cứ thế lớn lên dưới sự che chở của hai người.
Cho đến ngày mẫu thân lâm bệnh qua đời, tất cả những điều ta từng cho là hiển nhiên đều tan biến.
Suốt ba tháng sau tang lễ, Hầu phủ lúc nào cũng mang vẻ lạnh lẽo, quạnh quẽ.
Phụ thân gầy đi trông thấy, tính tình vốn ít nói nay lại càng thêm trầm mặc, có khi cả ngày cũng chẳng mở miệng được mấy câu.
Còn ta, ngày nào cũng quanh quẩn trong viện của mẫu thân, không muốn rời khỏi nơi vẫn lưu giữ hơi thở và những kỷ niệm về người.
Bên cạnh ta chỉ còn một lão ma ma đã hầu hạ nhiều năm cùng hai nha hoàn chăm sóc sinh hoạt thường ngày.
Người ngoài biết chuyện, ai cũng nói ta đáng thương.
Một tiểu cô nương mới mười ba tuổi đã mất mẫu thân, lại là đích nữ duy nhất của Tĩnh Bình hầu phủ.
Nếu sau này phụ thân cưới kế thất, chẳng biết ta sẽ phải chịu bao nhiêu ấm ức dưới tay kế mẫu.
Những lời ấy ban đầu chỉ khiến ta khó chịu, nhưng nghe đi nghe lại nhiều lần, ngay cả trong lòng ta cũng dần sinh ra sợ hãi.
Ta bắt đầu lo lắng về những chuyện chưa xảy đến, sợ một ngày nào đó trong phủ sẽ có thêm một vị nữ chủ nhân, còn mình thì chẳng biết phải đối mặt ra sao.
Thế nhưng, điều ta không ngờ tới nhất chính là kế mẫu còn chưa thấy đâu, phụ thân đã dẫn về một lúc bảy vị di nương.
Ngày tin tức ấy truyền về, ta đang ở trong phòng thờ thay hoa quả cúng trước bài vị của mẫu thân.
Quản gia đứng ngoài cửa, sắc mặt kinh hoàng, vẻ mặt chẳng khác nào vừa bị sét đ/á/n/h trúng.
"Cô nương, Hầu gia về rồi."
Ta vẫn cúi đầu sắp xếp hoa quả, chỉ khẽ đáp một tiếng.
Quản gia ngập ngừng hồi lâu mới nói tiếp: "Ngài ấy còn dẫn người về nữa."
Ta thuận miệng hỏi: "Ai vậy?"
Môi quản gia mấp máy, dường như chính ông cũng không biết phải nói thế nào cho phải, cuối cùng mới khó khăn thốt ra: "Bảy vị di nương."
Quả quýt trong tay ta lập tức rơi xuống, lăn một mạch trên nền nhà.
Ta ngẩng phắt đầu lên, tưởng mình vừa nghe nhầm.
"Bao nhiêu vị cơ?"
Quản gia cúi đầu, nhỏ giọng nhắc lại: "Bảy vị."
Ta sững sờ mất một lúc lâu, sau đó chẳng còn tâm trí nào để ý đến hoa quả cúng nữa, vội vàng xách váy chạy thẳng ra tiền viện.
Khi ta đến nơi, phụ thân đang đứng giữa chính đường, trên người mặc một bộ thường phục màu đen.
Đôi mày người hơi trầm xuống, nét mặt vẫn bình thản đến mức chẳng ai đoán được trong lòng đang nghĩ gì.