Ta mím môi, suy nghĩ một lúc rồi nghiêm túc gật đầu.
"Ta sẽ học."
Phương di nương nhìn ta, cuối cùng cũng nở nụ cười hài lòng.
"Tốt lắm."
Thế nhưng chẳng bao lâu sau, ta đã phát hiện cái gọi là "đơn giản nhất" trong miệng Phương di nương, đối với mình lại chẳng hề đơn giản chút nào.
Từng chữ trong sổ sách ta đều nhận biết được, nhưng một khi chúng đứng cạnh nhau thành những khoản mục dài dằng dặc, ta lập tức cảm thấy đầu óc quay cuồng, hai mí mắt cũng bắt đầu nặng trĩu.
Nào là khoản thu, khoản chi, bạc dư, hao hụt, bạc trong kho, bạc mặt, càng xem càng khiến ta hoa mắt.
Mới ngồi được nửa canh giờ, đầu ta đã nặng chẳng kém gì con chiến mã của phụ thân sau một ngày chinh chiến.
Phương di nương trông thấy cũng không sốt ruột.
Nàng chỉ thong thả bưng đến một đĩa điểm tâm, đặt trước mặt ta rồi hỏi:
"Cô nương, trong sổ thu mua có ghi đĩa bánh hoa quế này trị giá một lượng bạc."
Ta lập tức tỉnh táo hơn đôi chút, kinh ngạc nhìn nàng.
"Một đĩa bánh mà tận một lượng bạc sao?"
"Trong sổ ghi như vậy."
"Không thể nào!"
Phương di nương vẫn bình thản hỏi: "Vì sao lại không thể?"
Ta vội đáp: "Tháng trước, khi theo mẫu thân ra ngoài, ta từng mua loại bánh này.
Một hộp cũng chỉ có một trăm văn thôi."
Phương di nương khẽ gật đầu, vẻ mặt như thể cuối cùng ta cũng đã nói được điều nàng muốn nghe.
"Vậy vấn đề chính là ở đây."
Ta lập tức ngồi thẳng dậy.
Nàng mở quyển sổ ra, chỉ vào một dòng trong đó rồi giải thích:
"Mỗi tháng, tiền mua bánh trái của Hầu phủ được kê là hai mươi lượng bạc.
Nhưng nếu tính theo giá ngoài chợ, nhiều nhất cũng chỉ hết mười lượng.
Vậy cô nương thử nghĩ xem, mười lượng bạc chênh lệch kia đã đi đâu?"
Ta nhìn chằm chằm vào dòng chữ ấy, trong đầu bắt đầu suy nghĩ đến những khả năng trước đây chưa từng để tâm.
Đột nhiên, ta không còn thấy sổ sách nhàm chán nữa.
Những quyển sổ tưởng chừng khô khan ấy giống như từng cánh cửa, mà đằng sau chúng lại cất giấu rất nhiều chuyện ta chưa từng nhìn thấy.
Ta ngẩng đầu hỏi: "Có phải quản sự phụ trách thu mua đã lấy số bạc ấy không?"
Phương di nương đáp: "Cũng có thể cửa tiệm cố ý kê giá cao, có thể quản sự thu mua thông đồng với cửa tiệm, hoặc cũng có thể có người biết chuyện nhưng ngầm cho phép."
Ta lập tức hỏi tiếp: "Ai ngầm cho phép?"
Nàng nhìn ta, chậm rãi đáp: "Chuyện này phải do chính cô nương điều tra."
Ta im lặng một lúc, trong lòng vừa tò mò vừa thấp thỏm.
"Ta thật sự có thể tra ra được sao?"
"Có thể."
"Nhỡ tra sai thì sao?"
"Vậy thì tra lại."
"Nhỡ vì chuyện này mà đắc tội với người khác thì sao?"
Phương di nương nghe vậy liền mỉm cười.
"Cô nương, cô nương là đích nữ duy nhất của Tĩnh Bình hầu phủ.
Cho dù cô nương không chủ động điều tra, vẫn sẽ có người tìm cách đắc tội với cô nương."
Lời nói ấy chẳng hề gay gắt, nhưng ta đã hiểu được điều nàng muốn dạy.
Trước kia, ta luôn cho rằng chỉ cần mình không gây chuyện, không tranh giành, không làm mất lòng bất cứ ai, cuộc sống sẽ có thể yên ổn trôi qua.
Thế nhưng sau khi mẫu thân qua đời, ta mới dần nhận ra rằng không gây chuyện chỉ có nghĩa là bản thân không chủ động rút đao, chứ chẳng thể bảo đảm người khác sẽ không mang đao đến trước mặt mình.
Tối hôm ấy, ta ngồi dưới ngọn đèn, chăm chú xem từng trang sổ sách mà Phương di nương đã giao.
Xem được một lúc, những giọt nước mắt bỗng không kìm được mà rơi xuống trang giấy, khiến nét mực trước mắt nhòe đi.
Ta không khóc vì ấm ức, cũng chẳng phải vì những bài học quá khó khăn.
Ta chỉ đột nhiên nhớ mẫu thân đến vô cùng.
Khi người còn sống, mỗi lần thấy ta gặp chuyện khó, người luôn dịu dàng nói: "Chiêu Nhi nhà ta cứ từ từ thôi, không cần vội."
Thế nhưng kể từ ngày người ra đi, dường như tất cả mọi người, tất cả những chuyện xảy ra xung quanh đều đang nhắc nhở ta rằng, ta không thể tiếp tục chậm rãi như trước được nữa.
Sau khi bảy vị di nương vào phủ, Hầu phủ vốn lạnh lẽo cũng dần trở nên náo nhiệt hơn.
Mà nguyên nhân chủ yếu khiến nơi này náo nhiệt chính là bởi chẳng ai trong số họ giống những vị di nương bình thường.
Nhạc di nương sáng nào cũng dậy sớm luyện võ, chưa bao giờ chịu mặc váy, ngày ngày đều xuất hiện trong bộ Hồ phục gọn gàng, bên hông không rời chiếc roi ngựa.
Lần đầu tiên nàng dạy ta đứng tấn, ta chỉ miễn cưỡng chống đỡ được nửa tuần trà, hai chân đã run rẩy đến mức gần như không còn cảm giác.
Nàng khoanh tay đứng bên cạnh, bình thản nhìn ta rồi hỏi: "Chân run cái gì?"
Ta nghiến răng, cố gắng giữ nguyên tư thế.
"Nếu không run thì chắc gãy mất!"
Nhạc di nương đáp rất dứt khoát: "Không gãy được đâu."
Nàng vừa dứt lời, ta đã không thể chịu nổi nữa, cả người đổ xuống, ngã phịch m/ô/n/g xuống đất.
Nhạc di nương không đưa tay đỡ, chỉ ngồi xổm trước mặt ta, đưa sang một bát nước rồi hỏi:
"Cô nương có biết vì sao con người phải học cách đứng cho vững không?"
Ta vừa nhận nước vừa xoa đôi chân đau nhức, ấm ức đáp: "Bởi vì đứng không vững thì sẽ ngã."
Nàng gật đầu.
"Đúng, nhưng không chỉ có vậy."
Nói rồi, nàng đưa mắt nhìn ra khoảng sân rộng phía ngoài.
"Con người phải đứng thật vững thì khi có kẻ muốn xô đẩy mình, mới không dễ dàng bị đẩy ngã."
Nghe đến đây, ta bỗng im lặng, đôi tay đang xoa chân cũng chậm lại.
Nhạc di nương tiếp tục nói: "Miệng lưỡi có lợi hại đến đâu cũng chưa thể coi là có bản lĩnh.
Trước hết, hai chân phải đủ vững đã."