Ngày hôm sau, ta rời khỏi hoàng cung như mong muốn. Ta không mang theo bất kỳ trang sức, gấm vóc quý giá nào, chỉ để lại trên bàn trang điểm cho Tần Cơ chiếc khăn tay thêu hình nhánh hoa tương tư do chính tay ta thêu năm xưa.
Khi Tần Cơ đứng cô độc trên tường thành cao v.út nhìn theo bóng dáng ta dần rời xa, ta thậm chí không hề ngoảnh đầu lại nhìn ngài lấy một lần. Ta đi một cách dứt khoát, lạnh lùng và không hề lưu luyến.
Ta lên đường tìm đến thành biên ải xa xôi, nơi gió cát bụi mờ tàn nhẫn — cũng chính là nơi Mục Hành đã trút hơi thở cuối cùng. Ta đã không thể gặp chàng lần cuối trước khi chàng nằm xuống, vì vậy ta quyết định sẽ ở lại mảnh đất biên thùy này, sống hết quãng đời còn lại để xem như được bầu bạn bên chàng trong những ngày tháng cuối cùng.
Ta tìm được một công việc dạy học tại một tư thục nhỏ ở thị trấn biên giới để kiếm sống qua ngày. Kỹ năng đọc sách, viết chữ mà năm xưa Tần Cơ từng kiên nhẫn dạy ta để phòng thân, giờ đây cuối cùng lại trở thành công cụ duy nhất giúp ta tự lập sinh tồn.
Vào tháng Chín mỗi năm, Tần Cơ đều sai mật vệ lặn lội ngàn dặm mang đến cho ta một hũ hạt hoa keo đỏ thắm. Ta thừa hiểu rằng, mỗi một hạt keo đỏ tươi gửi đến đều tượng trưng cho nỗi nhớ nhung, khát khao điên cuồng và cố chấp của ngài dành cho ta ở chốn hoàng cung lạnh lẽo. Ta thậm chí có thể mường tượng ra cảnh ngài đứng cô độc dưới gốc cây keo hết đêm này qua đêm khác để nhớ về ta.
Thứ độc hại nhất trên thế gian này vốn dĩ chưa từng là hạt hoa keo, mà chính là những chấp niệm tình cảm khó quên cùng những nỗi đau đớn chưa bao giờ được giải quyết giữa ba người chúng ta.
Vào tháng Chín năm thứ hai sau khi ta rời cung, vị mật vệ giao hạt keo nhìn ta bằng ánh mắt đầy khẩn cầu, nghẹn ngào nói: "Tương Tư cô nương, Hoàng thượng vì quá nhớ thương cô mà lâm bệnh nặng, ngài kiên quyết không chịu uống t.h.u.ố.c điều trị. Xin cô hãy nể tình xưa nghĩa cũ mà trở về kinh thành thăm ngài một lần được không?"
Ta lạnh lùng lắc đầu: "Đừng gọi tôi là nương nương nữa. Ta sẽ không bao giờ quay lại nơi đó."
Vị mật vệ thở dài, hỏi tiếp: "Vậy cô nương có lời nhắn nào muốn thuộc hạ chuyển lại cho Bệ hạ không?"
"Không có." Dù trong lòng dâng lên muôn vàn cảm xúc ngổn ngang, ta vẫn chọn cách im lặng, không thốt ra dù chỉ một lời.
Vào tháng Chín năm thứ ba sau khi ta đi, người mật vệ năm xưa lại tìm đến mang theo hũ hạt tương tư, giọng nói càng thêm phần khẩn thiết: "Sức khỏe của Hoàng thượng ngày càng suy kiệt trầm trọng. Đêm nào ngài cũng đứng chôn chân dưới gốc cây hoa tương tư hứng sương lạnh để nhớ về cô nương. Ngài biết rõ rễ và hạt của loài cây đó có kịch độc, nhưng ngài tuyệt đối không cho phép bất kỳ ai c.h.ặ.t bỏ chúng. Xin cô nương hãy viết lấy một bức thư khuyên nhủ ngài được không?"
Ta vẫn lắc đầu cự tuyệt. Đây chẳng phải chính là kết cục mà ta đã âm thầm lên kế hoạch từ trước khi rời đi hay sao? Ta trồng hoa keo là để đầu độc ngài, nay ngài tự dùng nỗi nhớ để đầu độc chính mình, ta việc gì phải viết thư khuyên nhủ?
Vào tháng Chín năm thứ tư, vị mật vệ lại xuất hiện, gương mặt lộ rõ sự hốt hoảng và đau đớn: "Cô nương, vài ngày trước Bệ hạ suýt chút nữa đã băng hà vì uống rượu pha hạt hoa keo... Dù các thái y đã dốc sức cứu chữa giữ được mạng sống, nhưng ngài vẫn thường xuyên ho ra m.á.u không ngừng."
Nói đến đây, người mật vệ bật khóc nức nở: "Thái y viện nói nếu Bệ hạ cứ tiếp tục tự hủy hoại bản thân, không chịu uống t.h.u.ố.c dưỡng bệnh thì e là không thể sống được bao lâu nữa. Thế nhưng năm nay ngài mới chỉ hai mươi bảy tuổi, dưới gối lại chưa có lấy một mụn con nối dõi. Giang sơn này rồi sẽ đi về đâu... Xin cô nương hãy thương xót cho..."
Ta không thể nghe thêm được nữa, liền thô bạo ngắt lời hắn ta: "Đủ rồi, đừng nói nữa! Ta không muốn nghe!"
Ngay khi vừa bước chân vào căn phòng trống trải, nước mắt ta lập tức tuôn rơi như đê vỡ. Tần Cơ, tại sao ngài lại có thể ngu ngốc đến mức này? Ngài đã dùng trăm phương ngàn kế, mưu sâu kế hiểm để đoạt lấy ngai vàng cửu ngũ chí tôn, vậy mà tại sao giờ đây lại coi thường tính mạng của chính mình như một trò đùa thế kia?
Vào tháng Chín năm thứ năm sau khi ta rời kinh thành. Lần này, tẩm cung không hề có ai đến gửi hạt hoa keo cho ta nữa. Lòng ta dấy lên một nỗi bất an và hoảng loạn tột cùng: Liệu có phải ngài đã... thực sự băng hà rồi không?
Hôm đó, ta ngồi trong gian lớp học nhỏ, dạy đám trẻ thơ đọc thuộc lòng bài thơ "Tương Tư" của Vương Vi:
"Hồng đậu sinh nam quốc,
Xuân lai phát kỷ chi?
Nguyện quân đa thái trích,
Thử vật tối tương tư."
Đám trẻ ngây ngô đồng thanh đọc theo ta từng câu chữ. Sau đó, ta nghẹn ngào giải thích ý nghĩa cho chúng: "Bài thơ này mượn hình ảnh những hạt đậu đỏ để bày tỏ nỗi nhớ nhung, khát vọng khôn nguôi dành cho người mình yêu. Toàn bộ bài thơ tuy chỉ nhắc đến đậu đỏ, nhưng thực chất là đang truyền tải những tình cảm sâu đậm, da diết nhất..."
Một đứa trẻ dưới lớp nghiêng đầu nhìn ta, tò mò hỏi: "Phu t.ử, sao mắt người lại đỏ hoe thế kia ạ? Có phải người cũng đang nhớ thương một người nào đó rất nhiều không?"
"Không phải..." Ta vội vàng đặt cuộn sách xuống, quay mặt đi chỗ khác giấu đi giọt lệ sắp tràn, "Chỉ là do gió cát bên ngoài bay vào mắt ta mà thôi."
Ta ngước mắt nhìn ra ngoài cửa sổ để né tránh ánh mắt của đám trẻ. Nào ngờ, đập vào mắt ta lúc này lại là một chiếc xe ngựa sang trọng, thầm kín đang từ từ dừng lại bên lề đường đất ngoài tư thục.
Từ trên càng xe bước xuống chính là vị mật vệ quen thuộc — người đã bền bỉ suốt bốn năm qua lặn lội đến đây để giao hạt tương tư cho ta.
Ta có linh cảm mãnh liệt rằng Tần Cơ đang ở rất gần; ngài đang ngồi lặng lẽ trong chiếc xe ngựa sang trọng kia.