Năm xưa, hắn từng là thiếu niên ch.ói mắt nhất Kinh thành.
Mười ba tuổi đã theo quân ra trận, một tay vung trường đao nặng sáu mươi cân, c.h.é.m đầu quân địch, danh tiếng truyền khắp thiên hạ.
Hắn là Thế t.ử Hi Bình Hầu, lại là đường chất của Thái hậu.
Hắn thừa hưởng dung mạo của mẫu thân, tuấn tú xuất chúng.
Hắn còn bách chiến bách thắng, thông minh hơn người.
Mỗi khi các quý nữ trong Kinh thành bàn chuyện hôn sự, tên hắn gần như không thể tránh khỏi.
Ta xuất thân vọng tộc, bên ngoại lại hiển quý, mới có thể vượt qua bao nữ lang khác mà trở thành thê t.ử của Tống Diệu Xuyên.
Hắn nhìn ta, nói: “Nàng vẫn còn trẻ.”
“Có lẽ nàng nên rời đi, không cần ở lại cùng Tống gia chịu khổ.”
Ta biết hắn đang thăm dò mình.
Ta vẫn không đáp.
Hắn lại hỏi: “Lý sư phụ nói, ông ấy chịu dạy ta không phải vì gia thế của nàng, mà vì nể chính nàng.”
“Một vị đao khách danh chấn thiên hạ như vậy, nàng quen bằng cách nào?”
Chuyện này ta từng nói.
Ta đáp: “Con gái ông ấy bệnh nặng sắp c.h.ế.t, ta cứu được.”
Tống Diệu Xuyên nhìn bàn tay phải đã có thể cầm đũa của mình.
“Nàng rất giỏi y thuật.”
Giọng hắn chắc chắn.
Ta lại nói: “Ta còn giỏi thêu thùa.”
Hắn khẽ bật cười.
Nụ cười ấy rất nhạt, giống một cơn gió lướt qua mặt hồ, chỉ khuấy lên vài gợn sóng.
Đó là lần đầu tiên ta thấy hắn cười kể từ ngày trọng thương trở về.
Triều đình khi ấy liên tiếp xảy ra chuyện.
Bắc Địch lại nhiều lần quấy nhiễu biên cương.
Vị đại tướng được cử thay Tống Diệu Xuyên cuối cùng cũng bị người Bắc Địch ám sát, khiến triều đình vô cùng đau đầu.
Bệ hạ càng vì thế mà căm giận Tống Diệu Xuyên, cho rằng hắn năm xưa tư thông phản quốc, vô tình nuôi lớn mối họa Bắc Địch.
Ngoài biên cương bất ổn, trong triều lại có không ít đại thần tham ô.
Giữa những cơn sóng ngầm ấy, ngày tháng ở Vạn Cảnh Hồ Đồng vẫn cứ trôi chậm rãi.
Tống Diệu Xuyên kiên trì luyện đao bằng tay trái.
Tay phải cũng từng ngày tập phục hồi.
Phía sau Như Trúc Đường có một khoảnh đất nhỏ.
Ta cho người khai thành vườn rau.
Tống Diệu Xuyên nhìn qua rồi chê nha hoàn, bà t.ử xới đất quá nông, như vậy không thể trồng tốt.
Hắn tự cầm cuốc làm cả một ngày, đến lúc trời tối thì mồ hôi đã ướt đẫm lưng áo.
Từ sau hôm ấy, chúng ta thường đi dạo ngoài Hồ Đồng vào buổi tối, thuận miệng trò chuyện vài câu.
Tống gia vẫn còn ruộng đất và cửa hàng, cuộc sống không đến mức thiếu ăn thiếu mặc.
Chỉ có họ hàng thân thích phần lớn đều tránh xa.
Qua Tết Đoan Ngọ, tay phải của Tống Diệu Xuyên đã có thể nhấc được thanh đoản đao nặng tám cân.
Bà mẫu mừng rỡ, muốn lên núi tạ nguyện.
Ban đầu Tam đệ sẽ đi hộ tống.
Không ngờ đúng hôm ấy, hắn lại được bạn học gọi ra ngoài.
Nhà người bạn kia có một muội muội ruột, dung mạo xinh xắn, người tròn trịa đáng yêu, tính tình lại hoạt bát.
Bà mẫu vừa nghe liền giục Tam đệ mau đi, đừng làm người ta chờ.
Việc hộ tống vì thế rơi vào tay Tống Diệu Xuyên.
Hắn chủ động nói: “Để con đưa mẫu thân và Tranh Nhi đi.”
Bà mẫu nghe xong càng vui.
Đáng tiếc sáng hôm lên chùa, trời oi bức đến khác thường.
Bà mẫu vừa thức dậy đã thấy trong người khó chịu.
Ta khuyên bà ở nhà, không cần miễn cưỡng.
Bà lại nhất quyết không chịu.
“Đã hứa trước Phật, sao có thể thất tín?”
Cuối cùng ta đành thay bà đi.
Ta và Tống Diệu Xuyên cùng lên núi.
Dù có ghế mây để gia đinh khiêng, đến nơi ta vẫn đổ mồ hôi ướt áo.
Chúng ta lên núi chưa bao lâu thì trời đột nhiên nổi sấm.
Mưa trút xuống như dội nước.
Mưa đầu hạ vốn đến nhanh, đi cũng nhanh.
Thế nhưng cơn mưa ngày hôm ấy lại kéo dài suốt bốn canh giờ, từng hạt lớn như hạt đậu, không có dấu hiệu ngừng.
Một góc tây nam của chính điện bị vỡ.
Bức tường sau mấy gian sương phòng cũng đổ sập, không thể ở lại.
Trời dần tối.
Các khách hành hương mắc kẹt trên núi lần lượt được tăng nhân trong chùa khuyên xuống.
“Không còn chỗ nào có thể nghỉ qua đêm.”
“Phần lớn sương phòng đều dột, Phật đường lại không tiện cho khách ở lại ban đêm.”
Chúng ta cũng chỉ có thể xuống núi.
Tống Diệu Xuyên nhìn con đường đã bị mưa lớn xói lở, trầm giọng nói: “Đường thế này, người khiêng ghế mây sẽ không còn vững.”
Chỉ cần một người trượt chân, ta rất có thể sẽ cùng cả chiếc ghế lăn xuống khe.
Nhưng để ta tự đi trên con đường bùn lầy ấy lại càng không thể.
Ta đang cau mày thì hắn chợt hỏi: “Nàng biết y thuật, biết thêu thùa, vậy có biết võ không?”
Ta lắc đầu.
Hắn bèn quay lưng về phía ta, nửa đùa nửa thật nói: “Lại đây, nương t.ử.”
“Để vi phu cõng nàng xuống núi.”
Đó là lần đầu tiên hắn nói đùa với ta.
Ta nhìn tình thế, biết nhất định phải đi.
Đằng nào cũng phải nhờ người cõng, là hắn hay gia đinh thật ra không khác nhau bao nhiêu.
Ta đành nằm lên lưng hắn.
Con đường dưới chân trơn lầy đến đáng sợ.
Mấy lần Tống Diệu Xuyên suýt trượt ngã, từng bước đều đi vô cùng cẩn thận.
Sau này ta từng tự mình lên xuống con đường núi ấy không ít lần.
Nhưng chẳng lần nào cảm thấy nó dài như đêm hôm đó.
Khi trở về Vạn Cảnh Hồ Đồng, trời đã tối hẳn.
Bà mẫu đứng chờ ngoài cửa.
Không biết bà đã đợi bao lâu, vạt váy phía dưới cũng ướt sũng.
Ta và Tống Diệu Xuyên trở về Như Trúc Đường thay y phục.
Trong lúc hắn bước qua, ta thoáng nhìn thấy ống quần xanh của hắn dính một vệt màu lạ, không giống bùn đất.
Hắn đi tắm ở gian phụ.
Mãi một lúc lâu sau mới trở ra, ống quần lại hơi phồng lên như vừa quấn thứ gì bên trong.
Ta gọi: “Ngươi lại đây.”
Tống Diệu Xuyên đứng ngoài cửa tẩm phòng, bước chân khựng lại.
Trong phòng có mùi hương an thần thoang thoảng.
Sắc mặt hắn vô thức thả lỏng.
Ta bảo hắn vén ống quần lên.
Hắn nghe lời.