Trước khi Thương Ngô chân nhân đột t.ử, hắn cũng từng qua lại rất mật thiết với Thái Thanh quán.
Những chứng cứ ấy, một nửa là thật, một nửa do chính tay ta sắp đặt.
Nghiêm Sùng Ngạn không phải kẻ si mê cầu trường sinh, hắn chỉ là một lưỡi đao, mà hai mươi năm trước, chính lưỡi đao ấy đã tiến lời với tiên đế, đề nghị diệt Đàn quốc, đoạt bí thuật, dùng đầu người của cả một quốc gia làm bậc thang thăng quan cho bản thân.
Thái t.ử mất ba tháng, từng việc từng việc xác minh tội chứng của Nghiêm Sùng Ngạn rồi trình lên ngự án.
Lão hoàng đế nhìn bản tấu dày cộp ấy, im lặng rất lâu, cuối cùng chỉ lạnh nhạt nói ba chữ:
“Bắt đi.”
Ngày Nghiêm Sùng Ngạn vào ngục, kinh thành mưa bụi lất phất.
Ta đứng dưới mái hiên ven đường, nhìn cấm quân vây kín phủ Thủ phụ, nhìn Nghiêm Sùng Ngạn mang gông xiềng bị áp giải ra ngoài, lại nhìn thê thiếp con cái hắn khóc lóc thành một đoàn trong mưa.
Khi bước lên xe tù, hắn bỗng ngẩng đầu nhìn trời.
Mưa tạt thẳng vào mặt, hẳn phải đau rát.
Ánh mắt hắn lướt qua góc phố, dường như xuyên qua màn mưa nhìn thấy ta.
Ta không chắc hắn có nhận ra ta hay không.
Trong mắt tất cả mọi người, ta chỉ là kẻ bệnh tật của Cố gia, một nữ t.ử chưa từng liên quan đến triều chính hay những chuyện năm xưa.
Nhưng ta vẫn đứng sau màn mưa, mỉm cười với hắn.
Môi hắn mấp máy, dường như muốn nói gì đó, nhưng xe tù đã lăn bánh nghiến qua con phố dài, không cho hắn cơ hội mở miệng.
Ngày xử trảm, bên ngoài Ngọ Môn chen kín người xem.
Nghiêm Sùng Ngạn quỳ trên pháp trường, đầu tóc rối bời, chẳng còn chút uy phong nào của vị Thủ phụ quyền khuynh triều dã năm xưa.
Quan giám trảm đọc xong tội trạng rồi ném lệnh bài xuống.
Khoảnh khắc đao rơi, ta nhắm mắt lại.
Sư phụ từng nói, năm ấy khi thành bị phá, Nghiêm Sùng Ngạn đứng trên tường thành Đàn quốc, cười nhìn người của chúng ta từng người từng người bị c.h.é.m đầu.
Ta không cười.
Ta chỉ lặng lẽ nghe tiếng đao rơi gọn ghẽ ấy.
Cái tên thứ hai đã được gạch bỏ.
Sau khi Nghiêm Sùng Ngạn bị hành quyết, Thái t.ử bắt đầu thường xuyên ra vào phủ Thái sử lệnh.
Hắn đến không quá nhiều, nhưng mỗi lần đều ngồi đủ thời gian uống một chén trà, cùng ta trò chuyện vài câu rồi mới rời đi.
Tiểu Quận vương không biết nghe được phong thanh từ đâu, một buổi chiều lại đường hoàng đi vào từ cửa chính, trên tay xách một gói giấy dầu.
Hắn đặt gói giấy lên bàn đá rồi mở ra, bên trong là bánh hạt dẻ vẫn còn bốc hơi nóng.
“Cửa hàng ở Tây phố, vừa mới ra lò, ăn lúc nóng.”
Ta hơi bất ngờ, nhìn hắn rồi hỏi:
“Sao Quận vương gia biết ta thích món này?”
“Lần trước ở yến tiệc phủ Vĩnh An hầu, ngươi nhìn đĩa bánh hạt dẻ mấy lần mà một miếng cũng chẳng lấy được.”
Ta im lặng.
Ngày ấy quả thật ta đã nhìn mấy lần, bởi Liễu thị cố ý đặt đĩa bánh hạt dẻ xa ta nhất, rõ ràng không muốn cho ta với tới.
Ta nhìn hắn.
“Quận vương gia đến chỉ để đưa bánh hạt dẻ cho ta?”
“Không được sao?”
Hắn nghênh ngang ngồi xuống, vắt chéo chân.
“Ta rảnh rỗi chẳng có chuyện gì làm.”
“Kinh thành có bao nhiêu chỗ thú vị, ngài không đi chọi gà dắt ch.ó, lại chạy đến bầu bạn với một ấm t.h.u.ố.c như ta?”
“Ngươi đúng là chẳng biết tốt xấu. Ta đường đường là Quận vương gia, chịu hạ mình đến thăm ngươi, thế mà ngươi còn đuổi người.”
Miệng hắn nói cứng, nhưng vành tai lại đỏ lên trước.
Ta nhìn hắn một lát, bỗng hỏi:
“Quận vương gia, chẳng lẽ ngài để ý ta rồi?”
Hắn lập tức bật dậy như bị bọ cạp chích.
“Ai để ý ngươi! Ta chỉ thấy ngươi đã trả nợ giúp ta nên tiện thể đến đi một vòng thôi!”
Hắn cuống đến mức giọng cũng vỡ đi, vành tai lại càng đỏ hơn.
Ta nhìn dáng vẻ ấy chỉ khẽ cười.
“Yên tâm, nếu có ngày ta c.h.ế.t, nhất định sẽ báo trước cho ngài.”
Hắn sững người, môi khẽ động, cuối cùng lại không nói gì nữa.
Sau vụ Nghiêm Sùng Ngạn, thư của sư phụ gửi đến ngày càng dày.
Ông viết rằng triều đình đang được chỉnh đốn, người cũ đã tập hợp, lòng người cũng đã sẵn sàng.
Ông lại viết, lão hoàng đế mê đắm đan d.ư.ợ.c, thân thể đã kém xa trước kia, ngày tốt lành mà chúng ta chờ đợi bấy lâu sắp tới rồi.
Cuối bức thư cuối cùng, ông chỉ viết một câu:
“Cung đã kéo căng, chỉ chờ điện hạ.”
Ta đặt tờ thư lên lửa, nhìn nó từ từ co lại thành tro, trong lòng lại không hề kích động như từng tưởng tượng.
Từ năm bốn tuổi ta đã chờ ngày này.
Chờ lâu đến mức dường như mọi cảm xúc cũng đã bị mài mòn.
Mùa thu năm ấy, Thái t.ử cuối cùng cũng tra đến ta.
Ta không rõ hắn ngửi thấy điều bất thường từ mật thư bị chặn lại, hay lần theo dấu vết từ miệng một người cũ của Đàn quốc.
Tóm lại, hắn đã biết.
Đêm ấy hắn trèo tường đến, lặng lẽ đáp xuống hậu viện.
Ta vừa thu thế, kết thúc một bài quyền, vẫn quay lưng về phía hắn mà nói:
“Thái t.ử điện hạ đêm khuya trèo tường, không sợ bị người khác nhìn thấy sao?”
Hắn lập tức hỏi ngược lại:
“Cố tiểu thư đêm khuya luyện võ, không sợ bị người khác nhìn thấy?”
Ta xoay người, cùng hắn đối diện dưới ánh trăng.
Hắn nhìn thẳng vào mắt ta rồi nói:
“Ngươi là người Đàn quốc.”
Không phải câu hỏi.
Mà là khẳng định.
Ta không phủ nhận.
Đến bước này rồi, nếu còn cố sức phủ nhận thì chỉ là sỉ nhục trí óc của cả hai.
Hắn hỏi:
“Ngươi muốn phục quốc?”
“Ta chỉ muốn g.i.ế.c vài người.”
“Ai?”
“Điện hạ thật sự không biết?”