Hắn nằm sấp trong vũng bùn, ngước nhìn vạt áo lộng lẫy của ta.
Đột nhiên, hắn như phát điên, bất chấp thị vệ ngăn cản, liều mạng dập đầu về phía thuyền hoa.
Trán hắn liên tục đập xuống phiến đá xanh, m/á/u chảy đầm đìa.
Hắn vừa khóc vừa gào lên:
“Ta sai rồi! Ta thật sự biết mình sai rồi!”
“Ta không nên đảo lộn tôn ti, càng không nên nghe lời tiện nhân kia xúi giục!”
“Ta đáng c/h/ế/t! Ta đúng là một tên súc sinh!”
“Xin nàng nể tình chúng ta từng quen biết, cho ta một con đường sống!”
Bá tánh đứng xem nhận ra hắn, ai nấy đều lộ vẻ khinh miệt.
“Đây chẳng phải Thẩm Tranh, kẻ sủng thiếp diệt thê hay sao?”
“Hắn vẫn chưa c/h/ế/t à?”
“Còn dám cầu xin Tạ phu nhân? Hắn lấy đâu ra mặt mũi chứ?”
Tạ Hành Chu khẽ cau mày, nghiêng người chắn trước mặt ta.
Hắn lạnh giọng ra lệnh:
“Đừng để hắn làm bẩn mắt phu nhân!”
“Người đâu, đuổi hắn đi!”
“Khoan đã.”
Ta khẽ vỗ lên cánh tay Tạ Hành Chu rồi bước đến sát lan can.
Ta nhìn Thẩm Tranh đang khóc lóc t/h/ả/m thiết giữa vũng bùn, giọng nói bình thản chẳng chút gợn sóng.
“Thẩm Tranh, pháp luật Đại Chu nghiêm minh.”
“Ngươi rơi vào kết cục hôm nay đều là vì coi thường phép nước, bất chấp luân thường.”
“Trong cuộc đời Cố Oản ta, chưa từng có ba chữ quay đầu.”
“Đời này, ngươi cứ ở trong vũng bùn ấy mà sám hối về bát t/h/u/ố/c tránh t/h/a/i năm xưa đã tự tay bưng đến trước mặt ta đi.”
Nói xong, ta quay người rời đi, không hề lưu luyến.
“Hành Chu, chúng ta vào trong thôi.”
“Bên ngoài quả thật hơi lạnh rồi.”
Chiếc thuyền hoa chậm rãi rời bờ.
Phía sau lưng ta chỉ còn tiếng Thẩm Tranh gào khóc tuyệt vọng, thê lương vang vọng mãi trong màn đêm mùa đông.
Thuyền hoa tiến ra giữa sông, dần cách biệt với sự ồn ào trên bờ.
Tạ Hành Chu rót cho ta một chén trà nóng, mỉm cười hỏi:
“Nàng đã hả giận chưa?”
Ta lắc đầu, nâng chén trà lên.
“Chẳng có gì đáng để hả giận cả.”
“Từ khoảnh khắc hắn định dùng ngoại thất để làm nhục ta, trong mắt ta, hắn đã là một kẻ c/h/ế/t rồi.”
Tạ Hành Chu nhìn ta, trong mắt thoáng hiện vẻ tán thưởng cùng sự kính trọng sâu sắc.
“Chính vì nàng sáng suốt và quyết đoán như vậy nên ba năm trước, ngay từ lần đầu gặp mặt, ta đã đem lòng yêu nàng.”
Ta ngẩng đầu, bắt gặp ánh mắt chan chứa tình cảm của hắn.
Năm ấy, sau khi ta hủy hôn, cả kinh thành đều chờ xem Cố gia trở thành trò cười.
Có người cho rằng ta quá cứng cỏi, sau này e rằng khó tìm được một nhà chồng t/ử tế.
Thế nhưng phụ thân ta lại nói:
“Con gái Cố gia cả đời không lấy chồng cũng được, tuyệt đối không thể cúi đầu gả cho qua chuyện.”
Chính vào lúc ấy, Tạ Hành Chu vừa được điểm làm trạng nguyên đã chuẩn bị đầy đủ tam thư lục lễ, đích thân đến Cố gia cầu hôn.
Hắn nói với phụ thân ta:
“Đích nữ Cố gia hiểu đạo lý, trọng nghĩa tình, có phong thái của một nữ t/ử xuất thân danh môn.”
“Có được người thê t/ử như vậy là phúc phận ba đời của Tạ mỗ.”
Hắn tôn trọng ta, cũng tôn trọng lễ pháp và quy củ của thế gian.
Hắn hiểu rằng một nữ nhân biết giữ vững giới hạn của mình mới có thể trở thành chỗ dựa vững chắc, cùng phu quân vun đắp gia nghiệp hưng thịnh.
Đến ngày đại hôn của chúng ta, đoàn rước dâu cùng của hồi môn kéo dài mười dặm, một lần nữa khiến cả kinh thành chấn động.
Chỉ có điều, lần này người đến cưới ta mang theo kiệu hoa tám người khiêng.
Ta đội mũ phượng, khoác khăn choàng, đường đường chính chính bước vào Tạ gia với thân phận chính thê.
Không có bát t/h/u/ố/c tránh thai, cũng chẳng có ngoại thất.
Chỉ có lời thề mà Tạ Hành Chu trịnh trọng tuyên bố trước mặt văn võ bá quan.
“Gia quy Tạ gia quy định, nam t/ử qua tuổi bốn mươi mà chưa có con mới được nạp thiếp.”
“Nhưng Tạ Hành Chu ta xin thề tại đây, đời này chỉ có một người thê t/ử là Cố Oản.”
“Nếu trái lời thề, trời tru đất diệt!”
Đó chính là nền nếp của một thế gia thanh lưu, cũng là phúc báo mà những người biết giữ quy củ xứng đáng nhận được.
Ta không cần phải tranh giành với những nữ nhân khác trong hậu trạch.
Điều ta muốn làm là đứng sóng vai cùng phu quân, cùng ngắm nhìn cảnh phồn hoa thịnh thế của Đại Chu.
Về sau, ta không còn nghe được tin tức gì về Thẩm Tranh nữa.
Nghe nói sau đêm ấy, hắn lại trở về căn nhà của mình.
Yên Nhi không chịu nổi những trận đòn tàn nhẫn của hắn nên đã bỏ trốn cùng một gã đồ tể chuyên mổ lợn trong một đêm gió tuyết dữ dội.
Thẩm Tranh đuổi theo, nhưng lại bị gã đồ tể đ/á/n/h gãy cả hai chân.
Đôi chân từng giúp hắn rong ruổi trên sa trường giờ đây đã hoàn toàn tàn phế.
Hắn thực sự trở thành một phế nhân.
Vào những ngày rét buốt nhất mùa đông, sai dịch của phủ Kinh Triệu Doãn phát hiện hai t/h/i t/h/ể cứng đờ vì lạnh trong một ngôi miếu hoang ngoài thành.
Một người là tên ăn mày bị gãy chân.
Người còn lại là một nữ nhân bị gã đồ tể đ/á/n/h c/h/ế/t rồi vứt bỏ.
Khi còn sống, họ giày vò lẫn nhau.
Đến khi c/h/ế/t, họ cũng bị đặt cạnh nhau như hai bao vải rách, sau đó bị một mồi lửa thiêu thành tro bụi.
Không ai đến thu nhặt t/h/i t/h/ể của họ.
Cũng chẳng còn ai nhớ đến sự tồn tại của họ.
Họ giống như một vết bẩn trên bức tranh lộng lẫy của kinh thành, cuối cùng bị thời gian xóa sạch.
Phụ thân ta thường nói, quy củ tuy cứng nhắc nhưng chỉ những người biết tuân thủ quy củ mới có thể đứng vững lâu dài.
Nếu muốn dùng sự phóng túng ngông cuồng để thách thức lễ pháp cương thường đã được bồi đắp suốt hàng nghìn năm thì kết cục cuối cùng nhất định là bị nghiền nát thành tro bụi.
Thẩm Tranh từng cho rằng một bát t/h/u/ố/c tránh t/h/a/i có thể giúp hắn vẹn cả đôi đường.
Còn ta đã khiến hắn hiểu thế nào là vạn kiếp bất phục, cả đời không thể quay đầu.
Màn náo kịch của hắn đã sớm hạ màn.
Còn cuộc đời tươi đẹp của Cố Oản ta chỉ vừa mới bắt đầu.
- Hoàn -