10

Sau khi Bùi Trường An đi, ngày tháng yên bình hơn nhiều.

Ta tiếp tục giúp phụ thân xử lý sự vụ trên triều đình, đồng thời bắt đầu làm một việc khác.

Mở trường học.

Kiếp trước, tất cả tài hoa của ta đều lãng phí ở nơi hậu trạch.

Kiếp này, ta không muốn để thêm nhiều nữ t.ử khác lặp lại vết xe đổ.

Ta dùng tiền tiết kiệm của mình, mua một tòa nhà lớn ở phía nam thành, sửa sang thành học đường, chuyên chiêu thu nữ học sinh.

Dạy đọc sách, dạy toán thuật, dạy kiến thức luật pháp cơ bản.

Không dạy nữ công, không dạy nữ đức.

Tin tức truyền ra ngoài, tiếng c.h.ử.i bới vang khắp nơi.

“Nữ t.ử vô tài tức là đức, cô nương nhà họ Thẩm này là muốn lật trời rồi!”

“Tổn phong bại tục! Nhục nhã văn chương!”

Có người ném lá rau thối trước cổng học đường, có người viết thư nặc danh mắng ta.

Ta không thèm để ý.

Phụ thân cũng không ngăn cản ta, chỉ nói một câu: “Con muốn làm thì làm, có kẻ nào gây chuyện, cha phái người đi dẹp.”

Mẫu thân còn trực tiếp hơn, đích thân đến học đường làm giáo tập đời đầu tiên, dạy các cô nương đọc chữ.

Ngày khai giảng đầu tiên, chỉ có bảy học sinh đến.

Đều là con gái nhà nghèo, quần áo chằng vá chằng đụp, rụt rè ngồi trong phòng học, ngay cả đầu cũng không dám ngẩng lên.

Ta đứng trên bục giảng, nhìn các nàng, nhớ đến chính mình của kiếp trước.

Người rõ ràng đầy bụng tài hoa, nhưng chỉ có thể núp sau bình phong, biến những suy nghĩ của mình thành công lao của kẻ khác.

“Từ hôm nay trở đi, mỗi một chữ, mỗi một bài toán các em học được ở nơi này, đều là của chính các em.” Ta nói, “Không ai có thể lấy đi được.”

Bảy đôi mắt cùng đồng loạt nhìn về phía ta, long lanh sáng.

Nửa năm sau, học sinh từ bảy người biến thành bảy mươi người.

Một năm sau, biến thành ba trăm người.

Có con gái nhà thương hộ, có thứ nữ nhà quan lại, thậm chí có mấy cô nương bàng chi của tông thất, lén chạy đến dự thính.

Danh tiếng của học đường ngày càng lớn, tiếng c.h.ử.i bới ngược lại càng ngày càng nhỏ.

Bởi vì những cô nương đi ra từ học đường, có người có thể giúp nhà tính toán trông coi cửa hàng, có người có thể thay cha mẹ không biết chữ viết trạng từ đi kiện, thậm chí có người thi đậu vào phòng văn thư của quan phủ để làm việc.

Sự thật bày ra trước mắt, có c.h.ử.i bới thêm nữa cũng vô dụng.

Bùi Trường An từ Tây Bắc gửi thư về, nói hắn ở biên quan nghe nói chuyện học đường, vui mừng đến mức xoay ba vòng trong lều trại.

Dòng cuối cùng của bức thư viết: Uẩn Ninh, việc nàng làm còn ghê gớm hơn cả đ.á.n.h giặc của ta.

Ta gấp thư lại, kẹp vào trong sách.

A La nhìn thấy, cười nói: “Tiểu thư, thư của Bùi công t.ử, cô đều giữ lại hết à?”

“Giữ lại để ôn tập chữ xấu của hắn ta, làm gương răn mình.”

“Vâng vâng ạ.” A La cười đầy thâm ý.

11

Bùi Trường An ở Tây Bắc hai năm.

Hai năm, hắn từ một tiểu Hiệu úy, thăng lên làm Phó tướng.

Không phải dựa vào quan hệ, mà là dựa vào quân công thực đ.á.n.h thực chiến.

Hắn ở biên quan đ.á.n.h lớn đ.á.n.h nhỏ mười mấy trận, không một lần bại tích.

Trên quân báo của Xu Mật Viện, ba chữ “Bùi Trường An” xuất hiện ngày càng nhiều.

Hoàng đế ở trên triều đình đích danh khen hắn hai lần.

Phụ thân nhìn quân báo, nói với ta: “Thằng nhỏ này, là một khối liệu tốt.”

Ta không tiếp lời, nhưng tảng đá trong lòng đã rơi xuống.

Hắn đã nói sẽ khiến mình xứng với ta, hắn đã làm được.

Mùa xuân năm Cảnh Hòa thứ mười bốn, Bùi Trường An hồi kinh thuật chức.

Ta không đến cổng thành đón hắn.

Không phải là không muốn đi, mà là cảm thấy quá phô trương.

Nhưng việc đầu tiên hắn làm khi hồi kinh, không phải là đến Xu Mật Viện báo danh, không phải là đến Tĩnh An hầu phủ gặp cậu, mà là trực tiếp cưỡi ngựa phóng thẳng đến cổng nhà họ Thẩm.

A La chạy vào, thở hồng hộc: “Tiểu thư! Bùi công t.ử về rồi! Ngay ở cổng!”

Ta đặt cuốn sách trong tay xuống, sửa sang lại y phục, đi ra ngoài.

Hắn đứng ở cổng, cao hơn hai năm trước một chút, cũng rắn rỏi hơn một chút. Da dẻ bị gió cát biên quan thổi cho đen đi mấy tông, trên cằm lún phún râu xanh.

Nhưng đôi mắt ấy không hề thay đổi, lúc nhìn thấy ta, vẫn sáng ngời lạ thường.

“Uẩn Ninh.”

“Ừ.”

“Ta đã về.”

“Ta thấy rồi.”

Hắn đứng đó, toét miệng cười, cười ngốc nghếch, nửa ngày trời không thốt ra nổi câu thứ hai.

Ta thở dài: “Vào đi, đứng ở cổng thế kia ra thể thống gì.”

Hắn theo ta vào sân, đi suốt dọc đường cứ ngó nghiêng nhìn xung quanh.

“Cây trong sân của nàng cao lên rồi.”

“Hai năm rồi, tất nhiên là cao lên.”

“Cái bàn đá kia vẫn còn, trước kia ta hay ngồi đó nghe nàng giảng bài.”

“Ừ.”

“Uẩn Ninh.”

“Lại sao nữa?”

“Ta thực sự rất nhớ nàng.”

Bước chân ta khựng lại một chút.

Rồi tiếp tục đi về phía trước, không quay đầu.

“Ta biết.”

Phía sau truyền đến tiếng cười của hắn, trầm thấp, mang theo hai năm gió cát và nỗi nhớ nhung.

Tối hôm đó, Bùi Trường An ở nhà họ Thẩm ăn cơm.

Phụ thân kéo hắn uống rượu, hỏi chuyện biên quan, hai người hàn huyên đến tận nửa đêm.

Mẫu thân ở bên cạnh cười tủm tỉm nhìn, thỉnh thoảng gắp thức ăn cho Bùi Trường An.

Ta ngồi một bên, không nói chuyện mấy, nhưng trong lòng rất an định.

Đây chính là ngày tháng ta mong muốn.

Không phải cuộc sống cẩn trọng dè dặt, như bước trên băng mỏng của kiếp trước, mà là những ngày tháng chân thực thế này, có người chờ đợi, có người mong ngóng.

Rượu qua ba tuần, phụ thân đột nhiên đặt chén rượu xuống, nhìn Bùi Trường An, hỏi một câu: “Thằng nhỏ, khi nào con đến cầu hôn?”

Bùi Trường An bị sặc một ngụm rượu, ho sặc sụa đỏ bừng cả mặt.

Ta đứng dậy bỏ đi.

Sau lưng truyền đến tiếng cười sang sảng của phụ thân.

Ba ngày sau, Bùi Trường An dẫn theo Tĩnh An hầu Triệu Sùng, chính thức lên cửa cầu hôn.

Sính lễ không nhiều, nhưng mỗi thứ đều là do tự tay hắn kiếm được.

Có quân lương hắn tích góp ở Tây Bắc, có đôi vòng tay bạc do chính tay hắn rèn, còn có một con ngựa Hãn Huyết Bảo Mã hắn thu được từ tay người Nhung Địch.

Mẫu thân nhìn con ngựa kia, dở khóc dở cười: “Đây là sính lễ hay là chiến lợi phẩm đây?”