Anh ta im lặng một lúc, sau đó gọi người phụ trách trạm đến.

Người đó là một người đàn ông trung niên, mặc áo khoác màu nâu, trên thắt lưng đeo một chiếc túi da.

Ông ta xem bảng kê, lập tức nhận ra cách tính phí được sử dụng ở Hòe Khê.

“Bảng này ai lập?”

“Tôi.”

“Cô biết phân loại hàng theo trọng lượng thực tế?”

“Biết. Nếu ông muốn kiểm tra, tôi có thể tính lại phí của đoàn xe này.”

Người đàn ông nhìn tôi đầy nghi ngờ.

Sau đó, ông ta gọi người mang sổ ghi chép ra.

Ông ta chỉ vào một mục.

“Ba xe vải, hai xe muối, một xe dụng cụ. Tính đi.”

Tôi không vội trả lời.

Tôi yêu cầu được xem đơn vị cân đo mà trạm đang sử dụng, rồi lấy b/út tính từng khoản.

Chưa đầy nửa khắc, tôi đã đưa ra kết quả.

Người đàn ông so sánh với sổ.

Không sai.

Ông ta lại chọn thêm hai mục khác.

Tôi tiếp tục tính.

Vẫn không sai.

Cuối cùng, ông ta đặt bảng kê xuống, nhìn tôi hồi lâu.

“Cô thật sự chưa từng học ở trường?”

“Tôi từng học vài năm. Sau đó gia đình không cho học nữa.”

Ông ta không hỏi tại sao.

Ông chỉ quay sang viên lính.

“Cho cô ấy qua. Ghi lại thông tin, bảo thương đội chịu trách nhiệm đưa cô đến Bạch Sa.”

Tôi thở phào.

Mạnh Tân nhìn tôi, khẽ huýt sáo.

“Cô gái, xem ra cô không chỉ biết trốn.”

Tôi cất giấy tờ.

“Biết trốn là chưa đủ. Còn phải biết làm thế nào để người khác không có lý do giữ mình lại.”

Ông ta bật cười.

Đoàn xe tiếp tục lên đường.

Khi cổng trạm đóng lại phía sau, tôi ngoảnh đầu nhìn dãy núi xa xa.

Hòe Khê nằm bên kia những ngọn núi ấy.

Tôi không nhìn thấy thôn làng, nhưng tôi biết cha mình đang nổi giận, bà nội đang khóc lóc, còn trưởng thôn có lẽ đã bắt đầu tính toán cách giải thích việc tôi biến mất.

Tôi cũng biết mình chưa hoàn toàn an toàn.

Chỉ cần gia đình báo rằng tôi bị bắt cóc, hoặc nói tôi mắc bệnh không tỉnh táo, người ta vẫn có thể truy tìm tôi.

Tôi phải có một công việc, một nơi ở và những người có thể xác nhận rằng tôi tự nguyện rời đi.

Tôi phải biến mình từ một cô gái bỏ trốn thành một người có cuộc sống độc lập.

Đó mới là bước đầu tiên.

Trấn Bạch Sa lớn hơn Hòe Khê rất nhiều.

Con đường lát đá chạy xuyên qua phố chợ, hai bên là cửa hàng, quán ăn và những căn nhà có mái ngói xanh. Người bán hàng đứng trước cửa rao hàng, trẻ con chạy đuổi nhau, xe chở hàng lăn bánh liên tục.

Không ai biết tôi là con gái nhà nào.

Không ai quan tâm tôi đã làm gì ở quê.

Ở đây, tôi chỉ là một cô gái vừa đến tìm việc.

Điều đó khiến tôi vừa nhẹ nhõm, vừa bất an.

Tôi theo Mạnh Tân đến cửa hàng vải Phúc Nguyên.

Chủ cửa hàng là một phụ nữ ngoài bốn mươi tuổi, tên Đường Nhược Vân. Bà mặc áo xanh sẫm, tóc b/úi gọn, trên bàn đặt một cuốn sổ ghi chép dày.

Mạnh Tân đưa giấy giới thiệu cho bà.

“Đây là cô gái được trưởng thôn Hòe Khê giới thiệu. Cô ấy biết tính sổ, đường đi cũng chịu khó.”

Đường Nhược Vân nhìn tôi.

“Cô biết làm những gì?”

“Biết tính sổ, kiểm hàng, ghi chép và phân loại hàng hóa. Tôi cũng biết may vá.”

“Biết tính sổ thì không có nghĩa là biết làm việc. Cô có thể bắt đầu từ việc kiểm đếm hàng.”

Bà chỉ vào một đống vải vừa được chuyển đến.

“Ba mươi cuộn vải thô, hai mươi cuộn vải nhuộm, mười cuộn lụa. Kiểm tra xem số lượng có đúng không, sau đó ghi lại tình trạng từng cuộn.”

Tôi lập tức bắt tay vào làm.

Đến khi hoàn thành, tôi không chỉ ghi số lượng mà còn đ/á/n/h dấu những cuộn vải bị ẩm, những cuộn có đường dệt không đều và hai cuộn bị thiếu chiều dài so với quy cách ghi trên hóa đơn.

Đường Nhược Vân cầm sổ, xem từng dòng.

“Cô phát hiện thế nào?”

“Vải thô có mùi ẩm, nếu không phơi khô sẽ dễ mốc. Còn hai cuộn kia, tôi đo lại chiều dài rồi đối chiếu với hóa đơn.”

Bà gọi người giao hàng đến xác nhận.

Quả nhiên, hai cuộn vải bị thiếu.

Người giao hàng ban đầu còn cãi, nhưng khi nhìn thấy số liệu tôi ghi, hắn không thể nói gì nữa.

Đường Nhược Vân đóng sổ.

“Ngày mai đến làm.”

Tôi ngẩng đầu.

“Bà nhận tôi?”

“Ta nhận cô thử việc một tháng. Tiền công mỗi ngày được tính theo mức của người học việc. Ăn ở tự lo, nếu làm tốt sẽ tăng tiền công.”

Tôi cúi người.

“Cảm ơn bà.”

Bà nhìn tôi, giọng bình thản.

“Đừng cảm ơn quá sớm. Ở đây, người ta trả tiền vì cô làm được việc, không phải vì cô đáng thương.”

Tôi gật đầu.

“Vâng.”

Tôi thích quy tắc ấy.

Rõ ràng, công bằng, không cần tôi phải quỳ xuống cầu xin ai.

Tối hôm đó, tôi thuê một chiếc giường trong căn phòng nhỏ ở cuối ngõ.

Tiền thuê được tính theo ngày. Tôi mua một bát mì, ăn chậm rãi, rồi trở về phòng khóa cửa.

Tôi lấy cuốn sổ nhỏ ra.

Trên trang đầu tiên, tôi viết:

Ngày đầu tiên rời khỏi Hòe Khê.

Đã tìm được việc làm.

Không bị đưa trở về.

Tôi nhìn ba dòng chữ, rồi viết thêm một dòng.

Từ hôm nay, mỗi ngày sống đều là của mình.

Tôi không biết tương lai sẽ thế nào.

Nhưng lần đầu tiên, tương lai ấy thuộc về tôi.

Công việc ở Phúc Nguyên không dễ như tôi tưởng.

Tôi phải dậy từ sáng sớm, kiểm tra hàng hóa, ghi sổ, tính tiền và đối chiếu hóa đơn. Khi cửa hàng đông khách, tôi còn phải giúp đóng gói vải, chuyển hàng ra kho và chạy việc vặt.

Có những hôm, tôi đứng suốt từ sáng đến tối, hai chân đau đến mức không muốn bước thêm một bước.

Nhưng tôi chưa từng nghĩ đến việc bỏ cuộc.

Mỗi tối, tôi đều ghi lại số tiền mình kiếm được, chi phí ăn ở và khoản tiết kiệm.

Sau mười ngày, tôi đã biết thêm nhiều điều mà ở Hòe Khê không ai dạy tôi.

Tôi biết loại vải nào bán chạy vào mùa lạnh, loại nào dễ hỏng khi vận chuyển đường dài. Tôi biết thương nhân thường mặc cả thế nào, người giao hàng hay dùng thủ thuật gì để gian lận cân đo, và cách kiểm tra một hóa đơn có hợp lý hay không.

Tôi cũng phát hiện ra một vấn đề trong cửa hàng.

Phúc Nguyên có ba người phụ trách ghi sổ. Mỗi người dùng một cách viết tắt khác nhau, khiến việc đối chiếu cuối tháng rất mất thời gian.

Tôi đề nghị Đường Nhược Vân thống nhất mẫu ghi chép.

Bà đồng ý cho tôi thử.

Tôi chia sổ thành bốn phần: hàng nhập, hàng xuất, tiền thu và tiền chi. Mỗi khoản đều có ngày tháng, tên người giao nhận và chữ ký xác nhận.

Khi cuối tháng đến, việc đối chiếu nhanh hơn hẳn.

Đường Nhược Vân gọi tôi vào phòng.

“Cô học cách này ở đâu?”

“Tự nghĩ ra.”

Bà nhìn tôi hồi lâu, rồi hỏi:

“Cô muốn làm việc ở đây lâu dài không?”

Tôi đáp ngay:

“Muốn.”

“Vậy từ tháng sau, ta tăng tiền công cho cô. Nhưng có một điều, nếu muốn ở lại, cô phải học cách tự bảo vệ mình.”

Tôi hơi ngạc nhiên.

Đường Nhược Vân rót trà.

“Cô gái trẻ, lại không có người nhà đi cùng, dễ bị người khác bắt nạt. Có người sẽ nói cô ăn cắp, có người sẽ nói cô dụ dỗ đàn ông, có người sẽ dùng vài lời ngon ngọt để khiến cô giao hết tiền kiếm được.”

Tôi im lặng nghe.

Bà nói tiếp:

“Cô có thể giỏi tính toán, nhưng không thể dùng sổ sách để giải quyết mọi chuyện. Đừng tin ai chỉ vì họ nói lời t/ử tế. Cũng đừng nghĩ ai nghèo thì nhất định đáng thương, ai giàu thì nhất định xấu xa. Hãy nhìn việc họ làm.”

Tôi nhớ rất lâu những lời ấy.

Ở Hòe Khê, tôi từng nghĩ người ngoài thôn đều tốt hơn người trong thôn.

Bây giờ tôi biết mình đã quá ngây thơ.

Không phải nơi nào cũng có luật lệ công bằng. Không phải người nào cũng tôn trọng quyền lựa chọn của người khác.

Chương 3 - Ngày Tôi Bước Qua Cổng Núi, Cả Thôn Không Còn Ai Có Thể Định Đoạt Đời Tôi - Đọc truyện ngôn tình tổng tài bá đạo miễn phí | Lão Phật Gia