Các vị phu nhân lấy ngân phiếu đưa cho ta. Bạc dùng để in sách đều do họ cùng nhau góp lại, thế nhưng toàn bộ số tiền thu được từ việc bán sách lại nhất quyết để ta nhận.
Ta từ chối mãi cũng không được.
Một vị phu nhân mỉm cười nói:
"Muội đã giúp những nữ t.ử chốn khuê các chúng ta nở mày nở mặt."
Ai nấy đều cười rạng rỡ, trong ánh mắt chan chứa niềm tự hào như chính mình cũng được vẻ vang lây.
Về phần tập thủ cảo ghi chép phương pháp giảng dạy của phụ thân, vốn chỉ là bản chép mà con út của Thị lang đại nhân dùng để học tập, không ngờ lại được các tiên sinh trong học phủ nhìn thấy.
Các vị tiên sinh đều thi nhau sao chép, truyền tay nhau nghiên cứu.
Cuối cùng, bản thủ cảo ấy cũng được biên tập thành sách, được các học viện khắp nơi hết sức tán thưởng và đón đọc.
18
Bỗng dưng có được một khoản bạc lớn ngoài ý muốn, phụ thân cảm thấy số tiền này đến quá bất ngờ. Nhà ta vốn chẳng lo chuyện cơm áo, chi bằng đem nó dùng để tạo phúc cho bá tánh.
Một hôm, chúng ta nhìn thấy ngoài thành có không ít nạn dân cắm cọng cỏ lên đầu con cái mình, dọc đường rao bán để đổi lấy miếng ăn.
Ba người chúng ta nhìn nhau, trong lòng đều hiểu ý.
Chúng ta mua hết đám trẻ ấy, đồng thời ký khế ước đoạn tuyệt với người bán, từ đó cắt đứt mọi quan hệ.
Sau đó lại mua một tòa đại viện, đón tất cả bọn trẻ vào ở, rồi mời vài bà lão đến chăm nom sinh hoạt hằng ngày.
Nơi ấy vừa là dưỡng anh đường, vừa là thư thục.
Phần lớn mọi việc đều do phụ thân và mẫu thân đích thân quản lý.
Thuở ban đầu, đám trẻ đứa nào cũng rụt rè nhút nhát, lúc nào cũng cúi gằm đầu, giọng nói nhỏ đến mức như tiếng muỗi vo ve, thân hình gầy guộc, chỉ còn da bọc xương.
Bẵng đi một thời gian, bọn trẻ dần được ăn no mặc ấm, gò má cũng tròn trịa hơn. Chúng nô đùa, đuổi bắt khắp sân viện, tiếng đọc sách theo ô cửa sổ vọng ra ngoài, tựa như những hạt mầm mùa xuân đang đội đất vươn lên.
Một hôm, ta đút cơm cho một bé gái chừng hai tuổi. Con bé bỗng ôm c.h.ặ.t lấy cổ ta, cất giọng non nớt gọi: "Nương thân!"
Rồi lại quay sang phụ thân đang ngồi đọc sách giữa sân, líu lo gọi: "A ông!"
Mẫu thân lúc ấy đang cùng mấy bà lão chuẩn bị bữa cơm, nghe tiếng gọi liền bước tới xem. Đứa bé lại nhìn bà, ngọt ngào gọi: "A bà!"
Cả sân viện phút chốc lặng đi.
Ngay sau đó, tất cả bọn trẻ đều đồng loạt cất tiếng gọi theo. "Nương thân!"
"A ông! A bà!" Tiếng gọi nối tiếp nhau vang lên không dứt, tựa như đàn chim non đang ríu rít tranh mồi.
Mẫu thân đáp lại từng tiếng gọi một. Bà khẽ dùng góc tay áo lau đi khóe mắt đã hoe đỏ, nhưng nụ cười trên gương mặt còn ấm áp hơn cả ánh nắng chan hòa trong sân viện.
"Ta với phụ thân con cứ ngỡ đời này sẽ chẳng được nghe tiếng trẻ nhỏ gọi một tiếng 'A ông', 'A bà' nữa." Bà mỉm cười, giọng đầy xúc động. "Nào ngờ chỉ trong chớp mắt đã có thêm ngần ấy cháu trai, cháu gái."
Trong tay phụ thân vẫn cầm một quyển sách, nhưng đã thật lâu chẳng đọc nổi lấy một chữ.
Ông lặng lẽ nhìn đám trẻ tung tăng chạy nhảy khắp sân, ánh mắt ngập tràn yêu thương và trìu mến.
Ta bước đến ngồi xuống bên cạnh phụ thân. Ông quay đầu nhìn ta, trong ánh mắt chỉ còn lại sự bình yên và mãn nguyện.
"Phụ thân và mẫu thân con chưa từng cảm thấy không sinh được con trai là điều đáng tiếc." Phụ thân khẽ nói. "Con còn xuất sắc gấp trăm lần bất kỳ nam nhi nào."
Ta không đáp lời, chỉ lặng lẽ tựa đầu lên vai phụ thân, giống hệt như thuở còn thơ bé.
Hoa quế trong sân vừa độ nở rộ, hương thơm từng đợt từng đợt lan tỏa khắp nơi, hòa cùng tiếng cười đùa, tiếng đọc sách của lũ trẻ. Âm thanh tuy rộn ràng náo nhiệt, nhưng lại ấm áp và yên bình đến lạ.
Phu nhân Thị lang đến thăm ta, vừa nhìn thấy cảnh tượng trong viện đã không khỏi tặc lưỡi:
"Nhiều trẻ như thế này, muội nuôi nổi sao?"
Ta mỉm cười đáp: "Dạy chúng con cá, chi bằng dạy chúng cách bắt cá."
Ta mời các tú nương đến dạy dỗ.
Những bé gái lớn hơn có thể học thi thư, học nữ công thêu thùa, cũng có thể học cách quản lý và kinh doanh.
Còn các bé trai thì càng chẳng phải lo. Đứa có chí theo văn thì học văn, đứa có chí theo võ thì luyện võ.
Thái t.ử nghe nói bên ta đã giải quyết được việc thu nhận những hài t.ử bị nạn dân bỏ rơi, liền phái thị vệ đến truyền dạy võ nghệ, nói rằng muốn bồi dưỡng thêm những nhân tài trụ cột cho triều đình mai sau.
Thái t.ử còn đích thân ban tấm biển, ngự b.út đặt tên "Dục Anh Viện", lại hạ chỉ hằng năm đều cấp phát lương thực và y phục theo lệ.
Ngài còn ban cho một ấn đồng nhỏ khắc ba chữ "Anh Tài Ký".
Kể từ đó, những trước tác của ta và phụ thân đều có sự tín nhiệm và bảo chứng của vị Trữ quân.
19
Ta đến thư cục mua giấy mực, nào ngờ lại gặp Túc Duật.
Trong tay hắn đang cầm quyển Du Ký Thẩm Thị của ta, vừa ngẩng đầu liền nhìn thấy ta.
Hắn sững sờ nhìn ta thật lâu, trong đôi mắt đã nhuốm vẻ phong sương, nước mắt phút chốc dâng đầy.
Nếu mọi chuyện vẫn còn như thuở ban đầu, có lẽ hắn còn nghĩ mình có thể trở về bên cạnh ta, nhưng giờ đây, dù có vươn tay cũng chẳng thể chạm tới nữa.
Hắn biết rõ, giữa chúng ta đã không còn bất kỳ khả năng nào.
Vầng minh nguyệt ấy, cuối cùng hắn cũng chỉ có thể ngước nhìn từ xa.
Ta hiểu được nỗi hối hận của hắn, nhưng ta đã chẳng còn muốn thấu hiểu hắn nữa.
Ta tiếp tục bước về phía trước, từ nay đôi bên đã không còn liên can.
Hắn đuổi theo nửa bước, dường như muốn cất tiếng gọi ta, nhưng cuối cùng vẫn không thốt nên lời.
Gió lướt qua hành lang, thổi rơi một chùm hoa dành dành đã khô héo dưới mái hiên thư cục, cánh hoa vỡ vụn trên mặt đất, không một ai cúi xuống nhặt.
Từ nay gió trăng đôi bên không còn nợ nhau, chàng có những sớm sớm chiều chiều của chàng, ta có núi sông mây biển của riêng ta.
Mỗi người an nhiên bước về con đường của mình, chẳng cần ngoảnh đầu nhìn lại.
(Hết)