“Khâu chưởng quầy, nhà ông có hai cô con gái, một đứa là người sứ, một đứa là người bùn.”

Những người đứng xem cười ồ lên.

Cha ta cũng cười.

Ta ngồi xổm ngoài cửa tiệm, tay vẫn thoăn thoắt gấp quần áo cũ, chẳng hề ngừng lại.

Người sứ là muội muội ta, ngày ngày được cha mẹ nâng niu trong quầy hàng.

Muội ấy xinh đẹp, lại khéo ăn nói, sau này nhất định có thể tìm cho nhà một chàng rể nở mày nở mặt.

Còn người bùn là ta, có bị giẫm cho chắc lại cũng chỉ đáng làm kẻ bỏ sức ra cho cửa tiệm.

Mọi chuyện thực sự đổi khác từ ngày Trùng Dương, mùng chín tháng chín.

Phải đến khi trận tuyết lớn đầu tiên khiến sông Hải Hà đóng băng, ta mới đợi được cơ hội của mình.

Trời vừa tờ mờ sáng, các cửa hiệu trên phố đã lần lượt tháo ván cửa.

Tiệm nhà ta mang biển hiệu “Khâu Thuận Hiệu”, mặt tiền không rộng, bên trong quầy bán gấm vóc lụa là, còn sạp ven đường bán quần áo cũ.

Cha thường nói tiền của người giàu hay kẻ nghèo đều phải kiếm thì việc làm ăn mới duy trì được.

Ta xếp một chồng quần áo cũ ngay ngắn bên đường, nhấc một chiếc áo bông kép lên, chống nạnh cất cao giọng rao.

“Lại xem chiếc áo bông kép này nào, cả trong lẫn ngoài đều còn mới, mười đồng là mang đi được!”

“Áo dài mới về cũng có đây, vải còn tốt lắm, trời vừa se lạnh là mặc vừa hay!”

Trong vùng này, không ai rao hàng to bằng ta, đến khách mua hạt rang ở đầu phố cũng phải ngoái đầu nhìn.

Cha đi ngang cửa, liếc ta một cái.

“Con bé này sinh ra đã có số đứng đường rao hàng.”

Nói rồi, ông chắp tay sau lưng bước vào tiệm.

Sau quầy là Ngọc Kiều đang ngồi.

Da muội ấy trắng trẻo, dáng người mảnh mai, đôi bàn chân bó nhỏ ba tấc bước đi thong thả.

Lúc ấy, muội đang chọn vải cho một vị phu nhân, giọng dịu dàng như sợ làm người ta giật mình.

Muội khoác một xấp lụa Hàng Châu lên bên vai khách.

“Phu nhân soi gương xem, màu này tôn da như vậy, ai nhận ra phu nhân đã qua tuổi đôi mươi chứ?”

Vị phu nhân ấy ngắm nghía mãi trước gương.

Ngọc Kiều lại lấy ra một xấp khác.

“Phu nhân xem thêm màu này đi, vừa sang trọng lại chẳng già dặn, mặc ra ngoài bảo đảm có người tưởng phu nhân là cách cách triều Thanh thuở trước.”

Muội ấy đem từng xấp ra ướm thử, còn châm trà cho khách thêm mấy lượt.

Khi ra về, vị phu nhân quả nhiên mua liền ba xấp gấm.

Ngọc Kiều cất tiền giấy vào hòm, rồi qua quầy hàng hếch cằm với ta.

Vị khách ấy là phu nhân của Hạ chưởng quầy ở hiệu Phúc Thịnh.

Con trai bà đang làm việc cho một hãng buôn Tây ở Thượng Hải, gia cảnh rất giàu có.

Mẹ bưng nước từ ngoài vào, đi vòng qua sạp hàng của ta rồi đưa bát cho Ngọc Kiều.

“Kiều nhi, uống vài ngụm đi, kẻo hỏng giọng.”

Ngọc Kiều bưng bát nhấp từng chút một.

Ta đã rao hàng suốt nửa buổi sáng, cổ họng khô rát.

Chẳng ai để ý đến ta, ta đành tự ra vại múc nước uống một hơi cạn sạch.

Mẹ liếc xéo ta.

“Con gái con đứa uống nước cũng chẳng có dáng vẻ gì, chậm lại chút!”

Bà mở hòm tiền, vừa thấy số tiền bên trong đã mừng rỡ ra mặt, quay sang gọi cha.

“Ông lại xem này, Kiều nhi mới đúng là tấm biển hiệu sống hút khách của tiệm mình!”

“Đem mấy xấp vải này ướm lên người con bé, khách thấy đẹp thì tự nhiên chịu chi tiền.”

Nói xong, mẹ lấy từ túi áo ra một viên kẹo Tây, còn cố ý quay lưng về phía ta.

Đến khi bà tránh ra, Ngọc Kiều đã mím môi, một bên má phồng lên nho nhỏ.

Ta trải một chiếc áo bông cũ xuống đất, phủi sạch bụi trên áo.

Hai người họ cứ tưởng ta không trông thấy.

Qua giờ ngọ, nắng trên phố Cổ Y rọi xuống bỏng cả da đầu.

Ta đứng bán đến lúc dọn sạp, cổ và cánh tay đều đỏ ửng vì nắng.

Mẹ lại ngồi cạnh Ngọc Kiều, chiếc quạt lá trong tay từ đầu đến cuối đều phe phẩy về phía muội ấy.

Ta vào tiệm lau mồ hôi, đưa số tiền bán được trong ngày.

“Hôm nay con bán nhiều hơn hôm qua mười đồng bảy hào.”

Mẹ đếm xong tiền giấy, ngước mắt nhìn ta.

“Con nhìn lại mình xem, cổ đen sì, trông đúng như tượng nặn bằng bùn.”

“Nước trà nguội ở sân sau còn chưa đến nửa bát, tự ra mà uống.”

Ta l/i/ế/m đôi môi khô nẻ, nhìn thấy bên tay Ngọc Kiều đặt một bát trà nguội đầy ắp.

Bên mép bát còn cắm cả một ống hút bằng cọng rơm.

“Con không uống đồ thừa của người khác.”

“Dưới đáy bát toàn vụn lá trà, uống vào đầy bã trong miệng.”

Không đợi mẹ đáp, ta bưng ngay bát của Ngọc Kiều lên uống.

Mẹ quăng chiếc quạt xuống, nện mạnh hai cái vào lưng ta.

“Đồ của em gái mà cũng dám cướp, sao con lại tham ăn đến thế!”

Hóa ra trà này có vị ngọt.

Ta ôm c/h/ặ/t bát, quay mặt lại.

“Sao bát của muội ấy có đường?”

“Con cũng muốn uống trà ngọt!”

“Con lớn lên khỏe như thế, cần đường làm gì!”

Mẹ véo mạnh vào cánh tay ta.

Tối đến, nằm trên giường đất, ta sờ vào chỗ da thịt bầm tím đau nhức ấy.

Chỉ là một bát trà thôi mà bà ra tay như thể ta phạm phải tội tày trời.

Ta và Ngọc Kiều rõ ràng là chị em sinh đôi, cùng chui ra từ bụng một người mẹ.

Năm ấy, cả hai đều mười bảy tuổi.

Ta chỉ ra đời sớm hơn muội chừng thời gian hút nửa điếu t/h/u/ố/c lào, vậy mà cách đối đãi lại khác nhau một trời một vực.

Muội ấy miệng ngọt, mặt đẹp, chân lại nhỏ, còn ta chẳng có lấy một điều nào.

Thuở nhỏ, hàng xóm gặp Ngọc Kiều đều nói cha ta tốt số, sinh được một cô con gái như tiên nữ đầu thai.