Bỗng từ dưới xe vang lên giọng phụ thân ta.

“Có.”

Ông lấy từ trong n.g.ự.c ra một đóa nghênh xuân vàng nhạt đã bị ép bẹp.

“Con gái ta làm đấy, đeo vào là cưới được thê t.ử.”

Tai Thẩm Nghiễn Thu lập tức đỏ bừng.

Chàng không cài nó.

Chàng cất đóa hoa vào trong n.g.ự.c áo sát người, rồi đẩy chiếc xe nát của chúng ta, đi mười dặm đường bùn.

Hạnh Hoa Độ không lớn, ven sông chỉ có hai con phố.

Thẩm Nghiễn Thu mở một tiệm đồ gỗ ở phố Đông, sau viện có hai gian phòng trống.

Chàng bảo chúng ta cứ ở tạm.

Ta không chịu chiếm tiện nghi của người khác, ngay tối đó đã viết giấy nợ.

Mỗi tháng sáu trăm văn, đợi ta kiếm được tiền sẽ trả cả vốn lẫn lãi.

Thẩm Nghiễn Thu nhìn tờ giấy nợ rất lâu.

“Không lấy lãi.”

“Phải có.”

“Không có.”

“Người này sao chẳng nói lý vậy?”

Chàng gấp tờ giấy nợ lại, bỏ vào ngăn kéo.

“Chuyện này ta quyết.”

Đó là lần đầu tiên ta phát hiện, người này trông ít lời ít tiếng, nhưng tính tình lại cứng hơn cả gỗ.

Sáng hôm sau trời vừa hửng, thím Đào bán đậu phụ cạnh nhà đã bưng sang một bát sữa đậu nành nóng.

Bá Khâu chèo thuyền bên sông mang tới một sọt than.

Tẩu Trần ở tiệm may nghe nói ta biết làm nhung hoa, liền ôm tới nửa bao vụn lụa.

“Đều là vải thừa sau khi may áo, chẳng đáng tiền.”

Miệng bà nói vậy, nhưng dưới đáy bao lại đè hai mảnh sa tanh màu son còn nguyên vẹn.

Ta không vạch trần, chỉ làm cho con gái bà hai đóa hoa đào nhỏ.

Con gái tẩu Trần tên A Mãn, tám tuổi, sinh ra đã không nói được.

Con bé cài hoa đào bên tóc mai, soi mình bên chum nước suốt cả buổi sáng.

Chẳng mấy hôm sau, nó lại dắt theo mấy cô bé tết b.í.m tới.

Bọn trẻ vây quanh giỏ kim chỉ của ta, ríu rít chọn lựa hồi lâu, khi rời đi, bên tóc mai mỗi đứa đều có thêm một chấm màu tươi.

Thím Đào thấy có người hỏi giá, dứt khoát dựng cho ta một chiếc bàn nhỏ bên cạnh sạp đậu phụ.

Chân bàn một dài một ngắn, phía dưới kê nửa viên gạch xanh, lúc gió lớn còn phải lấy đá đè lên khăn bàn.

Chính cái sạp nghèo nàn ấy lại giúp ta một lần nữa cảm nhận được sức nặng của đồng tiền trong tay.

Ngày tích đủ tiền mua một thang t.h.u.ố.c, ta đi qua đi lại trước sạp thịt hai lượt, cuối cùng vẫn cắt một miếng thịt nhỏ, lại mua cho phụ thân chút rượu trắng.

Ta mua một gói t.h.u.ố.c, một miếng thịt lợn và hai lạng rượu.

Hứa Trường Thuận ngửi thấy mùi thịt thơm, vành mắt lập tức đỏ lên.

“Con gái, con nên mua cho mình một tấm vải mới.”

“Cha mà khóc nữa thì con không cho cha ăn thịt.”

Ông lập tức nén nước mắt trở vào.

Thẩm Nghiễn Thu ngồi trên ngạch cửa sửa chậu gỗ, nghe vậy liền cười khẽ một tiếng.

Đó là lần đầu tiên ta thấy chàng cười.

Ngay cả vết sẹo nơi đuôi mày phải cũng không còn đáng sợ như trước.

Tối hôm ấy, chàng tặng ta một chiếc hộp gỗ mới.

Trong hộp chia thành hai mươi bốn ô nhỏ, nhụy hoa, dây đồng, mảnh lụa đều có chỗ riêng.

Trên nắp còn khắc một cành nghênh xuân.

“Coi như tiền công.”

Chàng nói.

“Cô còn nợ ta một đóa hoa.”

Ta vuốt cành nghênh xuân ấy, hồi lâu không nói gì.

Hôm sau, ta đặt đóa nghênh xuân vàng nhạt đẹp nhất lên bệ cửa sổ của chàng.

Khách lớn đầu tiên của ta là lão phu nhân, mẫu thân của giáo dụ huyện học.

Lão nhân gia mừng thọ sáu mươi, muốn một cây hoa bốn mùa.

Xuân có đào lý, hạ có sen, thu có quế cúc, đông có hồng mai.

Tiền thưởng đủ cho phụ thân ta uống t.h.u.ố.c mấy tháng.

Nhưng ngày mừng thọ đã gần, tính hết cũng chỉ còn hơn mười ngày.

Ban ngày ta bày sạp, ban đêm cắt lụa, thức đến mắt tối sầm.

Hứa Trường Thuận nhìn không nổi nữa, kéo đôi chân bệnh ngồi bên chum nhuộm giúp ta pha màu.

“Hồng mai không thể dùng đỏ tươi, tục lắm.”

“Thêm nửa tiền tô mộc, nhỏ một giọt nước ô mai, màu mới trầm xuống được.”

Thẩm Nghiễn Thu giúp ta gọt khung cành.

Chàng không hiểu hoa, nhưng có thể uốn từng thanh gỗ mảnh thành độ cong ta muốn.

Thím Đào tối thu sạp xong cũng sang giúp ta se nhụy.

Tẩu Trần phụ trách cắt lụa.

Ngay cả A Mãn cũng ngồi bên cạnh, vuốt thẳng từng sợi dây đồng.

Khi cây hoa sắp hoàn thành, Tiền chưởng quầy của Cẩm Vân Các ở phía Tây phố tìm tới.

Bà ta là người duy nhất bán đồ trang sức ở Hạnh Hoa Độ, xưa nay không cho phép người khác tranh khách trước cửa mình.

“Một nha đầu ngoại hương cũng dám nhận đơn năm lượng bạc?”

Bà ta đặt một chậu hoa lụa làm thô xuống bàn.

“Ta cho ngươi một lượng, nhường lễ mừng thọ cho ta.”

Ta lắc đầu.

Bà ta cười lạnh, đưa tay định kéo cây hoa của ta.

Thẩm Nghiễn Thu chắn ngang một cây thước gỗ.

Cây thước “chát” một tiếng đập xuống mép bàn, chỉ cách ngón tay bà ta nửa tấc.

“Làm hỏng một cánh hoa, đền năm lượng.”

Tiền chưởng quầy sợ đến rụt tay.

“Ngươi chỉ là một tên thợ mộc, hung dữ cái gì!”

Thẩm Nghiễn Thu chỉ ra ngoài cửa.

“Ra ngoài.”

Trước khi đi, bà ta còn buông lời dữ, nói cây hoa này của ta tuyệt đối không thể đưa vào phủ giáo dụ.

Quả nhiên đến ngày giao hàng, phu xe ăn hỏng bụng, không tới.

Ta hỏi mới biết Tiền chưởng quầy cho hắn hai trăm văn.

Chỉ còn một canh giờ nữa là khai tiệc.

Thẩm Nghiễn Thu chẳng nói hai lời, buộc cây hoa lên lưng.

“Đi đường thủy.”

Hôm ấy trên sông ngược gió.

Bá Khâu chèo thuyền, thím Đào chạy trên bờ chỉ đường, tẩu Trần ôm chụp hoa, Thẩm Nghiễn Thu cõng cây hoa cao ba thước, một mạch chạy vào phủ giáo dụ.

Ngay trước giờ khai tiệc, cây hoa được đặt vững vàng giữa chính đường.

Lão phu nhân rút cây trâm vàng trên đầu, tự tay cài vào giữa cành mai mùa đông.

“Hoa tuy không tàn, nhưng lại có đủ dáng vẻ bốn mùa.”

Bà nói.

“Món lễ mừng thọ này, ta thích.”

Bà thưởng thêm cho ta ba lượng.

Khách trong tiệc mừng thọ truyền tiếng cho ta.

Sau đó một thời gian, người tới đặt hoa xếp hàng từ sáng tới tận trưa, còn hoa lụa trước cửa Cẩm Vân Các của Tiền chưởng quầy lại phủ một lớp bụi.

Ta dùng tám lượng bạc ấy thuê gian cửa hàng nhỏ bên cạnh tiệm đồ gỗ của Thẩm gia.