Biển hiệu do Hứa Trường Thuận đặt tên, gọi là tiệm nhung hoa Trường Ninh.
Lấy chữ “Trường” trong tên ông và chữ “Ninh” trong tên ta.
Thẩm Nghiễn Thu miệng nói cái tên tục, quay người lại chọn tấm gỗ long não tốt nhất.
Chàng đóng cửa tiệm đồ gỗ, bận rộn mấy đêm liền.
Đến ngày treo biển, ta mới phát hiện bên cạnh hai chữ “Trường Ninh” còn giấu một cành nghênh xuân cực nhỏ.
Sau khi mở tiệm, ta không còn chỉ làm hoa cài cho các cô nương.
Mũ phượng của tân nương, cây hoa mừng thọ cho lão nhân, mũ nhung đầu hổ cho trẻ đầy tháng, ta đều nhận làm.
Mắt A Mãn rất tinh, phối màu còn hơn cả người lớn.
Ta dạy con bé cắt lụa, cuốn dây.
Nó không nói được nên mỗi ngày muốn học mẫu hoa gì đều vẽ ra giấy.
Đến khi sen mùa hạ nở kín mặt sông, một đôi liên hoa liền cành do nó làm bán được khoản tiền công đầu tiên của riêng mình.
Tẩu Trần cầm tiền, trốn vào bếp khóc suốt nửa ngày.
Con dâu thím Đào cũng tới làm công.
Sau đó là cháu gái góa chồng của bá Khâu, rồi tới một tú nương bị nhà chồng đuổi ra ở phía Nam thành.
Hậu viện nhỏ kê vừa sáu chiếc bàn dài.
Người cắt lụa, người nhuộm màu, người kết hoa.
Các phụ nhân vừa làm việc vừa chuyện trò chuyện nhà Đông nhà Tây.
Nhà ai có con ốm, góc bàn sẽ lặng lẽ xuất hiện thêm mấy đồng tiền.
Nhà ai có nam nhân say rượu đ.á.n.h người, đến lúc tỉnh rượu thường sẽ thấy ngoài cửa đứng một đám thím bác đã xắn tay áo.
Tiệm nhung hoa Trường Ninh kiếm không tính là nhiều, nhưng chưa từng để bất kỳ ai tới làm phải về tay không.
Phụ thân ta không còn phải ngừng t.h.u.ố.c nữa.
Ấm t.h.u.ố.c ở hậu viện ngày ngày bốc lên mùi đắng, ông ngửi thấy là trốn, ta bưng bát đuổi tới đâu ông ho tới đó.
Ông đã có thể vịn tường đi hơn mười bước.
Lúc vui nhất, ông ngồi trước cửa đ.á.n.h cờ với Thẩm Nghiễn Thu.
Kỳ nghệ của ông không tốt, nhưng bản lĩnh hối cờ lại rất cao.
“Nước vừa rồi không tính.”
“Quân đã hạ, không được hối.”
“Ta là người bệnh.”
Thẩm Nghiễn Thu đành im lặng dời quân cờ về lại chỗ cũ.
Ta ngồi trong quầy xem sổ sách, không nhịn được cười.
Có một lần ta cười lâu quá, ngẩng đầu vừa hay bắt gặp ánh mắt chàng.
Chàng lập tức cúi đầu, vành tai lại đỏ lên.
Người này từng chắn địa bĩ cho ta, từng khiêng cả trăm cân gỗ, lòng bàn tay bị bào gỗ cứa rách cũng không cau mày.
Thế mà ta chỉ nhìn chàng thêm một cái, chàng đã cầm quân cờ không vững.
Đầu hạ năm ấy, Hạnh Hoa Độ gặp một trận lũ lớn.
Mưa từ mái hiên đổ xuống, ngày đêm không ngừng.
Nước sông trước tiên nuốt mất bậc đá ở bến thuyền, đến khi dân trong phố kịp phản ứng, dòng nước vàng đục đã tràn vào phố Đông.
Tiệm nhung hoa Trường Ninh cũng không tránh khỏi.
Nửa đêm, nước từ dưới ngạch cửa ùa vào, những hòm gỗ đựng lụa nổi trôi khắp nơi.
Ta vừa cõng Hứa Trường Thuận lên lưng, Thẩm Nghiễn Thu đã đá tung cửa sau.
“Lên sườn dốc trước.”
Ta không chịu.
“Lụa trong kho không thể bỏ, đó là tiền công tháng sau của mọi người.”
“Mạng quan trọng hơn lụa.”
“Chàng đưa cha ta đi, ta chuyển đồ.”
Chàng nhìn ta một cái, không tranh với ta nữa.
Chàng buộc Hứa Trường Thuận lên lưng mình, lội qua dòng nước ngang eo đưa ông lên chỗ cao, rồi lập tức quay lại.
Hai người chúng ta từng hòm từng hòm chuyển lên gác.
Nước dâng quá nhanh.
Chiếc hòm cuối cùng vừa được đẩy lên cầu thang, cửa trước đã “rầm” một tiếng bị nước húc bật.
Một bàn tay từ bên ngoài thò vào, bám lấy khung cửa.
Là thím Đào.
Phía sau bà còn có bá Khâu, tẩu Trần và hơn mười người hàng xóm chống bè tre.
“Ngây ra đó làm gì?”
Thím Đào quệt nước trên mặt.
“Năm ấy con dâu ta sinh nở, không đủ tiền mời bà đỡ, là cô ứng trước tiền công cho ta.”
“Giờ cô gặp nạn, chẳng lẽ chúng ta đứng nhìn?”
Bá Khâu ghì chiếc bè tre ngang trước cửa.
Tẩu Trần và A Mãn đứng trên bè nhận hòm.
Nam nhân chuyển đồ nặng, phụ nhân giữ lụa, trẻ con ôm sổ sách và mẫu hoa.
Trước khi trời sáng, những thứ còn cứu được trong tiệm Trường Ninh đều được chuyển lên từ đường trên sườn dốc.
Nhưng xưởng đậu phụ nhà thím Đào lại sập nửa bức tường.
Bà ngồi xổm trước đống gạch vỡ, rất lâu không nói gì.
Ta lấy mười hai lượng bạc cuối cùng còn lại trong tiệm, đặt vào tay bà.
Bà như bị bỏng, vội đẩy ngược lại.
“Đây là vốn để cô mở lại tiệm!”
“Tiệm có thể từ từ mở lại, đậu đã ngâm cả đêm, hôm nay không xay sẽ hỏng.”
“Tiền này coi như ta góp vốn.”
“Sau này mỗi khi bán được một nồi đậu phụ, bà chia cho ta một miếng nếm thử là được.”
Thím Đào đỏ mắt mắng ta là đồ tính toán giỏi.
Nước vừa rút bớt, Thẩm Nghiễn Thu đã dẫn người tới xây lại bếp lò cho bà.
Tẩu Trần dọn gian phòng trống nhà mình cho chúng ta làm xưởng tạm.
Bá Khâu ngày ngày chèo thuyền, đưa nhung hoa đã làm xong sang huyện lân cận chưa bị thiên tai để bán.
A Mãn vẽ trên tường từ đường một tấm biển xiêu vẹo.
“Nhung hoa Trường Ninh, nước cuốn không trôi.”
Không biết ai nhìn thấy rồi truyền câu này lên huyện thành.
Chẳng mấy ngày sau, trong huyện có không ít khách tìm tới.
Người mua hoa, người mua đậu phụ, còn có người đặc biệt tới đặt hòm gỗ long não của Thẩm Nghiễn Thu.
Ngày phố Đông mở chợ trở lại, thím Đào thật sự bưng tới một giỏ đậu phụ đầy ắp.
Bà chống nạnh nói.
“Không được thiếu của cô một miếng nào.”
Ta chỉ giữ lại hai miếng, còn lại đều trả về nồi của bà.
Tối hôm đó, phố Đông ghép tất cả những chiếc bàn có thể ghép lại thành một dãy.
Đậu phụ rán, hầm, nhồi thịt, mùi thơm bay nửa con phố.
Hứa Trường Thuận uống nửa bát rượu, vỗ vai Thẩm Nghiễn Thu.
“Tiểu Thẩm à, nha đầu Oản nhà ta tính cứng, ngươi chịu khó nhường nó một chút.”
Thẩm Nghiễn Thu nghiêm túc gật đầu.
“Tính ta cũng cứng.”
Nụ cười của Hứa Trường Thuận cứng lại trên mặt.
Ta ở bên cạnh suýt phun cả rượu ra.
Sau khi vào thu, Tống Hoài Cẩn tìm tới Hạnh Hoa Độ.