15
Trải qua chặng đường tới Tề Quốc, khung cảnh hiện ra lại chẳng hề giống với lúc xuất phát.
Trên con đường núi gập ghềnh lầy lội, từng đoàn dòng người tị nạn mặc y phục rách rưới mang vẻ mặt thẫn thờ, lặng lẽ nối đuôi nhau di chuyển tựa đàn kiến.
Trên người họ bốc ra mùi hôi thối khó chịu, nhiều người gầy rộc chỉ còn da bọc xương, vết thương rỉ mủ bẩn thỉu đầy mình.
Trông thấy đoàn người chúng ta, đám dân tị nạn cũng chỉ khẽ nhếch mí mắt lên nhìn rồi lại lẳng lặng uể uải nhường đường né sang một bên.
Họ giống như những con cừu non chờ bị mổ thịt, âm thầm lê bước qua hết đêm dài.
Ta đứng yên tại chỗ, mặc cho từng cơn gió núi gào hít thổi qua làm trái tim đau nhói.
Hướng họ đi tới là nơi ta vốn dĩ rất đỗi quen thuộc, đó là nơi ta từng gắn bó suốt mười năm trời.
Vùng giáp ranh giữa Bắc Nhung và Tề Quốc quanh năm chìm trong chiến sự, hễ một chút là thiên tai nhân họa bùng phát, nhà tan cửa nát, bách tính phải sống trong cảnh vô cùng lầm than.
Cho dù Bắc Nhung và Tề Quốc hiện tại đã tạm thời ngừng chiến nhưng những trận chiến liên miên trước đó đã làm tổn hại nguyên khí nặng nề, ngày một ngày hai chẳng thể nào khôi phục lại ngay được.
Mà Tề Quốc dường như cũng chẳng thực sự có ý định giữ vững hòa bình, trái lại còn đang rục rịch chực chờ, lúc nào cũng nhăm nhe dình mò cơ hội.
Đám dân tị nạn lúc này phải bỏ chạy có lẽ cũng vì thế đạo quá gian nan, không còn đường sống nữa rồi.
Ta ngẩng đầu lên thì thấy Hách Liên Huyền cũng đang chăm chú dõi theo dòng người tị nạn, nơi đáy mắt cuộn trào những cảm xúc phức tạp dường như đang đè nén điều gì.
Ánh mắt chúng ta khẽ giao nhau, rồi cùng rơi vào khoảng lặng trầm mặc.
Hành trình đi lại tự nhiên không tránh khỏi gian khổ cùng phong trần mệt mỏi, suốt cả chặng đường hầu như chẳng được nghỉ ngơi.
Nhưng nhớ tới cảnh tượng dân sinh gian nan chứng kiến trên đường, cõi lòng ta lại u ám đau đớn, thế nên dứt khoát vùi đầu dốc sức phi ngựa.
Cứ như thế đi được nửa quãng đường, chúng ta đã tới vùng ngoại ô của đô thành Tề Quốc.
Khi còn chưa vào thành, ta bắt gặp ngợp trời đèn Khổng Minh giăng đầy giữa vùng sơn dã.
Những chiếc đèn Khổng Minh lung linh dịu nhẹ, mang theo tâm nguyện của người thả đèn lững lờ bay về phía chân trời xa xăm.
Ta nhìn chằm chằm vào rừng đèn Khổng Minh rất lâu, mãi cho tới khi Hách Liên Huyền cất tiếng gọi mới bừng tỉnh lại.
“A Hạc.” Hắn gọi ta, rồi mở chiếc đèn Khổng Minh đang xếp gọn ra, “Nàng có muốn thả đèn không?”
Ta gật đầu, nhận lấy mẩu giấy cùng cây b.út rồi đề b.út viết xuống vài dòng.
Lúc đặt b.út viết chữ, ta nín thở ngưng thần, viết một mạch không ngừng nghỉ, chỉ muốn trút hết mọi chua xót đang trào dâng trong lòng lên trang giấy.
Đợi tới khi nhẹ nhàng đẩy chiếc đèn Khổng Minh ra, thả cho nó nương theo chiều gió bay đi.
Ngắm nhìn biển đèn rực rỡ ngợp trời, ta chợt nghe thấy một giọng nói khe khẽ vang lên bên tai.
“Phu nhân ước điều gì?”
Ta chẳng chút do dự đáp lời, từng từ từng chữ đanh thép rõ ràng.
“Ta muốn tứ hải thái bình, muốn kẻ cướp đoạt phải chịu muôn vàn nhục nhã, muốn bách tính an cư lập nghiệp, muốn ngô lúa đầy kho, muốn sài lang khắp cửu châu không dám tới xâm phạm.”
Hách Liên Huyền khẽ mỉm cười.
“Vậy thì, nguyện vọng của ta cũng giống hệt như nàng.”
…