Gió núi từ xa thổi tới, vạt váy bị thổi bay phần phật.
Ta vuốt khối ngọc vẫn còn lưu lại hơi ấm, đứng nguyên tại chỗ thật lâu.
Hàn Tranh đi rồi.
Ngày tháng trên núi lại trở về sự bình lặng vốn có.
Chỉ là lúc chẻ củi, thỉnh thoảng ta sẽ nhớ tới bóng lưng hắn im lặng vung rìu.
Lúc nấu cháo, nhìn chiếc bát dư ra cũng sẽ vô thức thất thần.
Tiểu Hồi thấy vậy liền trêu:
“Cô nương, người đã đi rồi. Người có nhìn thêm nữa thì cái bát ấy cũng chẳng nở hoa đâu.”
Ta lặng lẽ thu chiếc bát lại, không thèm để ý nàng.
Cuối thu, dã cúc nở vàng khắp núi.
Ta cho d.ư.ợ.c liệu đã phơi khô vào hai chiếc giỏ, gánh tới tiệm t.h.u.ố.c trong trấn.
Tôn chưởng quầy vừa xem qua đã sáng mắt, nói kim tuyến liên có phẩm tướng cực tốt, thậm chí còn thuần hơn thượng phẩm bán trong những tiệm t.h.u.ố.c lớn ở kinh thành vài phần.
Ông trả thêm cho ta ba phần tiền, rồi hỏi ta có định cung cấp d.ư.ợ.c liệu lâu dài hay không.
Ta đáp có, chỉ là đường núi quá khó đi.
Tôn chưởng quầy nói, nếu ta có thể sửa một con đường từ chân núi nối ra quan đạo, mỗi tháng ông sẽ cho tiểu nhị tới tận nơi lấy hàng.
Ta ghi nhớ chuyện ấy trong lòng, trở về liền bắt đầu tính chuyện sửa đường.
Nhưng sửa đường cần người, cần tiền, còn cần đủ loại công cụ. Ta mới chỉ vừa đổi được cái lều cỏ ban đầu thành một gian nhà gỗ, trong tay chẳng có bao nhiêu bạc, muốn tự mình làm quả thật không dễ.
Đúng lúc ta đang đau đầu không biết nên xoay xở thế nào, dưới chân núi lại xuất hiện một nhóm người.
Người dẫn đầu là một thiếu niên chừng mười bảy mười tám tuổi, mặc áo ngắn màu lam sẫm, bên hông cài d.a.o c.h.ặ.t củi, phía sau còn có bảy tám thanh niên tuổi tác xấp xỉ.
Bọn họ ngẩng đầu nhìn Tây Sơn, vừa chỉ trỏ vừa nói chuyện, giống như đang xác nhận nơi nào đó.
Ta cầm xẻng hái t.h.u.ố.c đi xuống.
“Mấy vị tìm ai?”
Thiếu niên quay đầu nhìn thấy ta, lập tức cười toe.
“Người chính là Tô cô nương phải không?”
“Hàn đại ca nhờ bọn ta tới.”
Hàn đại ca.
Tim ta bất giác hụt mất một nhịp.
Thiếu niên lấy từ trong n.g.ự.c ra một phong thư đưa tới.
Trên phong bì viết ba chữ Tô Ninh mở, nét b.út cứng cáp mạnh mẽ.
Ta mở thư ra, bên trong chỉ có mấy dòng.
“Đã tới Bắc cảnh, mọi việc bình an.”
“Ở chỗ quan đạo rẽ vào Tây Sơn, ta để vài người. Có việc cứ tìm họ.”
“Nếu đường sửa không nổi, bảo bọn họ giúp.”
“Hàn Tranh.”
Ta cầm lá thư lật qua lật lại đọc hai lần, cuối cùng vẫn không nhịn được bật cười.
Tiểu Hồi ghé tới nhìn trộm một cái, lập tức tặc lưỡi mấy tiếng.
Thiếu niên kia tên A Thạch, là con của thợ săn ở thôn gần đó.
Hắn nói trước khi Hàn Tranh rời đi đã để lại lời ở chân núi, nhờ bọn họ thỉnh thoảng tới Tây Sơn xem thử.
Bọn họ vốn đều là những người trẻ tuổi rảnh rỗi, nghe nói có một cô nương một mình khai hoang trồng t.h.u.ố.c trên núi nên tò mò kéo nhau tới xem.
Không ngờ tới nơi mới phát hiện thật sự có việc để làm.
Bọn họ ở lại sửa đường suốt nửa tháng.
Ba dặm đường đất từ chân núi nối ra quan đạo được mở rộng, đầm chắc, đoạn khe suối hẹp nhất còn dựng thêm một cây cầu gỗ.
Ta phụ trách cơm nước, mỗi ngày nấu một nồi lớn cháo d.ư.ợ.c thiện cùng bánh ngũ cốc, khiến cả đám thanh niên ăn uống no nê, miệng lúc nào cũng bóng dầu.
Ngày con đường sửa xong, ta dựng một tấm bảng gỗ ở đầu đường, dùng than viết lên ba chữ:
“Thường An trang.”
A Thạch đứng bên cạnh gãi đầu.
“Tô cô nương, Thường An nghĩa là gì?”
“Thường An nghĩa là năm nào cũng được bình an.”
Ta nhìn tấm biển, nhớ tới câu cuối cùng mẫu thân từng nắm tay ta nói trước lúc lâm chung.
“Dĩ Ninh, con phải năm nào cũng bình an.”
Ta đem di nguyện của mẫu thân khắc lên gỗ, treo trước cửa ngôi nhà mới.
Mùa đông tới rất nhanh.
Trận tuyết đầu tiên rơi xuống khi lúa mì đông vừa nhú những mầm xanh cao hơn một tấc.
Ta và Tiểu Hồi chuyển kim tuyến liên vào lều ấm khuất gió, phủ thật kín bằng rơm cùng cành khô.
Khe cửa cũng được trát bùn, trong phòng xây thêm bếp đá để đốt củi núi sưởi ấm.
Đêm tuyết, gió núi gào rít, căn nhà gỗ bị thổi đến kêu cót két không ngừng.
Tiểu Hồi quấn chăn co bên bếp.
Còn ta tựa bên cửa sổ, cầm b.út viết thư cho Hàn Tranh.
Viết rồi xé.
Xé rồi lại viết.
Cuối cùng, ta chỉ gửi đi một câu.
Trên núi đã có tuyết, nhưng con đường sửa xong đi rất dễ.
Không có thư hồi âm.
Nhưng ta biết hắn đã nhận được.
Nửa tháng sau, A Thạch nhờ người mang tới một tấm da dê đã được thuộc kỹ, nói là gửi từ Bắc cảnh.
Trên da dê vẽ một cành mai.
Chỉ vài nét đơn giản, vậy mà sống động như thật.
Ta đem tấm da dê ấy ép dưới gối.
Xuân đến, tuyết tan, cây cỏ trên núi lại bắt đầu sinh trưởng điên cuồng.
Ta cùng A Thạch bọn họ khai hoang thêm mười mẫu đất dốc, trồng hoàng kỳ, đảng sâm và đương quy.
Lều ấm kim tuyến liên cũng được mở rộng gấp ba lần, số mầm chuyển ra ngoài trồng cuối cùng sống được hơn phân nửa.
Tôn chưởng quầy mỗi tháng tới thu hàng một lần, còn giúp ta giới thiệu thêm mấy tiệm t.h.u.ố.c ở nam thành kinh thành.
Danh tiếng Thường An trang dần dần truyền ra.
Khách thương qua lại đều biết dưới chân Tây Sơn có một nơi trồng d.ư.ợ.c liệu rất tốt, kim tuyến liên thuần hơn nơi khác, d.ư.ợ.c liệu phơi khô vừa đủ cân mà giá lại phải chăng.
Người đi đường ghé lều trà nghỉ chân, uống một bát canh d.ư.ợ.c thiện nóng, sau đó tiện tay mua thêm mấy gói quả núi sấy khô mang theo.
Lều trà cũng dần từ mái cỏ đơn sơ đổi thành khung gỗ ngói xanh, tuy không lớn nhưng sạch sẽ, ngay ngắn.
Đầu hạ, một vị khách không mời mà tới.
Hôm đó nắng rất gắt.
Ta đang đứng trong lều trà rót nước cho mấy thương khách, vừa ngẩng đầu đã nhìn thấy trên quan đạo phía xa có một chủ một tớ đang chậm rãi đi về phía này.