Phu quân cùng thứ muội của ta lật thuyền ở bến đò, phủ Định Viễn Bá treo cờ tang suốt bảy ngày, bà mẫu ép ta giao ra hiệu buôn và của hồi môn, cả đời thủ tiết vì chàng.
Ta ném sổ sách xuống trước mặt mọi người, thay chàng xóa hộ tịch, trừ tên khỏi tông tịch, phát tang, còn ghi đôi “uyên ương bỏ mạng” chẳng còn đủ thi cốt ấy vào công văn truy nã của quan phủ.
Ba năm sau, trước khi lâm chung, bà mẫu nắm c.h.ặ.t t.a.y ta, đắc ý nói con trai bà vẫn còn sống.
Ta kéo lại góc chăn cho bà, mỉm cười chỉ vào chiếc hộp trước linh vị: “Con biết. Nhưng bộ hài cốt mà người đã bái suốt ba năm, quả thật là của chàng.”
Trước lúc tắt thở, Bùi lão phu nhân bỗng có lại chút sức lực.
Bàn tay gầy guộc của bà thò ra khỏi chăn gấm, siết c.h.ặ.t cổ tay ta, móng tay gần như cắm vào da thịt.
Nha hoàn canh ngoài bình phong nghe động tĩnh, định bước vào, bị ta giơ tay ngăn lại.
Trong phòng chỉ thắp một ngọn đèn dầu nhỏ.
Lò t.h.u.ố.c sôi ùng ục, mùi đắng át cả hương đàn trước bàn thờ.
Bà nhìn chằm chằm vào ta, khóe miệng từ từ kéo lên.
“Lệnh Nghi, ngươi không thắng được đâu.”
Ta đặt bát t.h.u.ố.c lại lên chiếc kỷ nhỏ: “Mẫu thân còn muốn cược gì với con?”
“Nghiễn Chi chưa c.h.ế.t.”
Mỗi lần thốt ra một chữ, l.ồ.ng n.g.ự.c bà lại phập phồng nặng nề.
“Ba năm trước, kẻ chìm dưới sông chỉ là người thế mạng. Nó đã mang Minh Châu xuống phương Nam, trong tay vẫn còn ấn tín của Bùi gia. Đợi nó trở về, một quả phụ như ngươi chiếm đoạt gia sản của chồng, ngược đãi bà mẫu, nửa đời còn lại đủ để ngươi sống trong lao ngục.”
Bà chờ xem sắc mặt ta biến đổi.
Ta tháo cúc tay áo, rút cổ tay khỏi tay bà.
Vòng dấu đỏ do bị siết kia, qua hai ngày tự khắc sẽ tan.
“Ấn tín ấy, góc trái bên dưới có phải bị mẻ một miếng nhỏ bằng hạt gạo không?”
Nụ cười của Bùi lão phu nhân cứng lại.
“Sáu phong thư người viết cho chàng, con cũng nhận được. Phong đầu tiên giấu trong sổ công đức của Bạch Hạc Quán ở phía nam thành, phong thứ hai nhờ bà lão câm bán hương chuyển đi, từ phong thứ ba trở đi đều là người của con thay người đưa ra ngoài.”
Môi bà run lên: “Ngươi nói bậy.”
“Lộ phí và lộ dẫn chàng nhận được, cả tờ hồng khế mà Chúc Ỷ Lan tưởng có thể đổi lấy ba phần mười quyền hàng hóa ở bến Tây Bình, cũng đều do con chuẩn bị.”
Ta đứng dậy, lấy từ dưới bàn thờ ra một chiếc hộp gỗ mun.
Nắp hộp mở ra, bên trong không có châu báu, chỉ có một mẩu xương ngón tay cháy đen, một chiếc nhẫn bạc bị nung chảy mất nửa và một tờ biên bản khám nghiệm t.ử thi đóng ấn son.
Bùi lão phu nhân nhận ra chiếc nhẫn ấy.
Đó là chiếc nhẫn bà tự sai tiệm bạc làm cho Bùi Nghiễn Chi vào năm chàng vừa nhược quán, mặt trong khắc một chữ “Nghiễn” cực nhỏ.
“Không thể nào.”
Bà giãy giụa ngồi dậy.
“Nếu ngươi biết nó còn sống, vì sao còn phát tang cho nó?”
“Người sống có hộ tịch, có tổ sản, có đường trở về. Chính tay chàng nhận xác, mượn cái c.h.ế.t bỏ trốn, rồi lại lấy thân phận người c.h.ế.t cấu kết trộm bán lụa quan. Huyện nha đã xóa tên chàng khỏi hộ tịch, từ đường đã trừ tên chàng, triều đình cũng đã định tội.”
Ta đẩy chiếc hộp lại gần hơn.
“Ngày chàng còn sống mà trốn khỏi kinh thành, Bùi Nghiễn Chi đã c.h.ế.t rồi. Kẻ về sau c.h.ế.t trong trận hỏa hoạn ở bến Tây Bình, chỉ là một đào phạm tên Bùi Thạch.”
Cổ họng lão phu nhân phát ra một âm thanh quái dị.
Bà vươn tay muốn chộp lấy chiếc hộp, nhưng cánh tay chỉ lơ lửng giữa không trung, thế nào cũng không với tới.
Ta giúp bà đè lại góc chăn.
“Mẫu thân bớt sức đi. Người còn chưa nghe con kể vì sao chàng biết rõ là cạm bẫy, vẫn dẫn Chúc Ỷ Lan nhảy vào.”
Tang sự ba năm trước không phải là khởi đầu của câu chuyện.
Khởi đầu thật sự nằm vào mùa xuân năm ta mười bảy tuổi.
Năm ta mười bảy tuổi, phụ thân muốn gả ta cho Bùi Nghiễn Chi.
Chúc gia kinh doanh tơ lụa ở Lăng Châu đã bốn mươi năm, từ một cửa hiệu mở thành mười ba cửa hiệu, bạc kiếm được ngày càng nhiều, nhưng xuất thân thương hộ vẫn bị sĩ tộc xem nhẹ.
Phủ Định Viễn Bá thì trái ngược hẳn.
Tấm biển tổ tiên để lại vẫn vàng son rực rỡ, song trong kho lại chẳng tìm nổi một tấm cống đoạn nguyên vẹn.
Phụ thân cho rằng cuộc hôn sự này là chiếc thang lên trời.
Mẫu thân Ôn Tố Quân nghe mai mối nói xong, chỉ hỏi ba chuyện.
“Bùi gia nợ bao nhiêu?”
“Bùi Nghiễn Chi tự mình kiếm được bao nhiêu bạc?”
“Của hồi môn sẽ đứng tên ai?”
Lớp phấn trên mặt bà mối như sắp nứt ra vì cười: “Phu nhân, phủ Bá đang bàn chuyện nhân duyên, sao người vừa mở miệng đã toàn là bạc tiền?”
Mẫu thân đặt chén trà xuống: “Ăn cơm cần bạc, nuôi hạ nhân cần bạc. Nếu nhân duyên không cần ăn cơm, bà bảo công t.ử Bùi gia lên mặt trăng mà ở.”
Bà mối không được lợi, về nhà liền thêm mắm dặm muối.
Tối hôm ấy, phụ thân xông đến Đông viện đập bàn, nói mẫu thân thô tục, làm hỏng tiền đồ của ta.
Ta ngồi dưới đèn kiểm sổ mùa xuân, đợi ông mắng xong mới lên tiếng: “Phụ thân nếu thấy môn đệ đáng tiền, vậy xin Bùi gia lấy ra khế ruộng đủ để thế nợ trước. Một tấm biển rỗng không trả nổi tiền công cho người làm.”
Phụ thân tức đến mức chỉ vào ta: “Nữ nhi thương hộ, cả người đầy mùi tiền! Ngươi không gả, đời này còn trèo cao được vào nhà nào?”
Mẫu thân gảy bàn tính lách cách: “Nó tự mình đã là một nhà rồi.”
Sau khi phụ thân đập cửa bỏ đi, mẫu thân đóng cửa sổ, đẩy danh mục sính lễ của phủ Bá sang cho ta.
Trông thì kín hai trang, thứ đáng tiền chỉ có một đôi vòng ngọc cũ, trên vòng còn có đường chỉ vàng từng được dùng để vá lại.
“Lệnh Nghi, Bùi gia nhắm vào tiền của con.”
Mẫu thân nói.
“Con biết.”
“Vậy con còn muốn gặp Bùi Nghiễn Chi không?”
“Gặp.”