Vết thương cũ thứ tám hoàn trả, chính là hàn độc năm xưa.
Hắn sốt đến mê man, trong miệng không ngừng gọi tên ta. Người Tạ phủ đến mời ta sáu lần, nói Hầu gia muốn gặp ta.
Ta không đi lần nào.
Người đến lần thứ bảy là Thanh Ninh.
Nàng đứng ngoài cửa quán khế, chỉ nói một câu: “Ta từ hôn rồi.”
Thanh Ninh từ hôn, Tạ gia lập tức rối loạn.
Tạ lão phu nhân chạy vào cung cầu Thái hậu làm chủ, nhưng Thanh Ninh lại đặt sáu tờ lệnh gia hạn lên bàn trước mặt Thái hậu.
“Hôm nay hắn có thể giấu người vợ trước để lấy nàng ấy đỡ đao thay mình, ngày mai cũng có thể giấu ta để lấy ta đỡ tên. Một phu quân như vậy, ta không dám lấy.”
Thái hậu thương nàng nhất, hôn sự lập tức bị hủy.
Sau khi tỉnh lại, việc đầu tiên Tạ Trầm Chu làm không phải vào cung cứu vãn hôn ước, mà là đến tìm ta.
Ngày ấy hàn độc trên người hắn vẫn chưa lui, môi xanh tái, bước vào quán khế mà chân còn đứng không vững.
Những nữ t.ử xếp hàng nhận ra hắn, lần lượt tránh sang một bên.
Không phải vì kính sợ, mà vì muốn nhìn xem vị chiến thần nhờ thê t.ử đỡ thương mà được phong Hầu kia rốt cuộc trông như thế nào.
Tạ Trầm Chu không chịu nổi những ánh mắt ấy, sắc mặt càng thêm khó coi.
“Kiến Vi, chúng ta nói chuyện.”
“Mười văn một trang. Hầu gia muốn xem loại khế nào?”
“Ta không đến để làm khế.”
“Vậy xếp hàng sau tất cả khách nhân.”
Hắn đứng suốt một canh giờ.
Đợi vị khách cuối cùng rời đi, ta mới bảo Trúc Thanh đóng cửa.
Tạ Trầm Chu ngồi đối diện ta, lấy ra một chiếc hộp gỗ.
Bên trong là địa khế Hầu phủ, tư ấn của hắn, cùng một tờ hòa ly thư bỏ trống.
“Nàng chẳng phải vẫn luôn muốn tự do sao? Ta có thể cho nàng.”
Ta không chạm vào: “Điều kiện là gì?”
“Lập lại khế.”
Quả nhiên.
“Không cần giống trước đây, để một mình nàng gánh hết. Chúng ta mỗi người một nửa, chỉ đến khi bốn mươi chín ngày kết thúc. Sau đó ta trả nàng hòa ly thư, một nửa gia sản Hầu phủ cũng thuộc về nàng.”
“Hầu gia nghĩ ta thiếu tiền sao?”
“Vậy nàng muốn gì?”
“Ta chẳng muốn gì cả.”
Cuối cùng hắn không nén được giận: “Tô Kiến Vi, nàng có biết Bắc cảnh lại đang tập kết binh mã không? Bệ hạ bất cứ lúc nào cũng có thể sai ta xuất chinh. Giờ cứ một hai ngày ta lại phát tác thương cũ, tay phải không cầm nổi đao, chân cũng không thể cưỡi ngựa. Nàng nhất định phải ép c.h.ế.t ta vào lúc này sao?”
“Ta không ép chàng xuất chinh, cũng không khiến chàng bị thương.”
“Nhưng rõ ràng nàng có thể cứu ta!”
Câu này quá đỗi quen thuộc.
Phu quân của La Tú Nương cũng từng nói như vậy.
Ta nhìn Tạ Trầm Chu, bỗng nhận ra hắn chẳng khác gì tên vô lại nơi phố chợ kia. Bọn họ đều xem sự hy sinh của nữ nhân là lẽ đương nhiên, chỉ khác một kẻ mặc áo vải, một người khoác hầu phục.
“Sáu năm trước, ta cũng rõ ràng có thể lựa chọn không ký. Nhưng tất cả các người đều nói với ta, nếu chàng c.h.ế.t, chính là ta không chịu cứu chàng.”
Ta đẩy tờ hòa ly thư trống trở lại: “Tạ Trầm Chu, cứu người khác là bản lĩnh, không muốn lấy mạng mình cứu chàng là quyền của ta. Đừng biến thương tích của chàng thành tội lỗi của ta.”
Hắn ngẩn ngơ nhìn ta.
Một lúc lâu sau, hắn thấp giọng: “Năm đó ta không biết đó là khế đơn phương.”
“Lần đầu không biết, vậy sáu lần gia hạn sau cũng không biết sao?”
“Quân tình khẩn cấp, văn thư đều do thân binh đưa đến, ta không xem kỹ.”
“Vậy thư ta viết cho chàng thì sao?”
Hắn dời mắt.
Ta nhìn chằm chằm hắn: “Năm Cảnh Hòa thứ mười bốn, ta hôn mê chín ngày, sau khi tỉnh lại viết thư cầu chàng dừng khế. Chàng trả lời ta ‘chiến sự đang căng, ngày sau hãy bàn’. Tạ Trầm Chu, chàng đã đọc.”
“Ta tưởng chỉ là thương bệnh thông thường, không biết nàng bị thương nặng đến vậy.”
“Trong thư ta đã viết, tai phải mất thính lực, phế phủ xuất huyết, lang trung nói nếu thêm lần nữa có thể mất mạng.
Chàng còn muốn nói gì?”
Môi hắn khẽ động, nhưng không thể nói thêm.
Ta biết nguyên nhân.
Hắn không phải không biết.
Chỉ là đúng lúc ấy hắn phải đ.á.n.h trận quan trọng nhất. Dừng khế, hắn có thể c.h.ế.t; không dừng, ta có thể c.h.ế.t.
Hắn đã chọn để ta c.h.ế.t.
Tạ Trầm Chu bỗng ho dữ dội, m.á.u tràn ra giữa những kẽ ngón tay.
Đó là vết thương cũ thứ mười hai, phế phủ chấn thương đến nứt vỡ.
Hắn cong người, đau đến mức sống lưng run lên.
Trước kia mỗi khi ta ho ra m.á.u như vậy, Tạ lão phu nhân đều nói: “Cố chịu đi, Trầm Chu nơi biên quan còn khổ hơn con nhiều.”
Bây giờ không còn ai lau m.á.u cho hắn.
Ta gọi tùy tùng của hắn: “Đưa Hầu gia nhà các ngươi về đi.”
Tạ Trầm Chu nắm lấy mép bàn, ngẩng đầu nhìn ta: “Kiến Vi, nàng thật sự không đau lòng chút nào sao?”
Ta nghiêm túc nghĩ một lúc.
“Từng đau. Nhưng sáu năm quá dài, đã đau hết rồi.”
Sau khi Tạ Trầm Chu rời đi, trong cung có người đến triệu ta.
Hoàng đế không gặp ta, người gặp ta là Binh bộ Thượng thư và Chưởng Khế sứ của Ty Gánh Họa, Hạ Văn.
Hạ Văn đẩy một tờ khế mới đến trước mặt ta: “Tô cô nương, cấp báo Bắc cảnh. Mười vạn quân địch áp sát biên giới, Tạ Hầu gia là người hiểu rõ biên phòng nhất. Quốc gia đang lúc dùng người, tư oán của hai người có thể tạm gác sang một bên.”
Ta liếc qua khế thư.
Vẫn là khế đơn phương gánh họa, chỉ đổi người gánh khế từ “chính thê” thành “người tự nguyện”, thời hạn bốn mươi chín ngày.
“Nếu ta không ký thì sao?”
Binh bộ Thượng thư sa sầm mặt: “Biên quan nếu thất thủ, người c.h.ế.t đâu chỉ một mình Tạ Trầm Chu. Tô thị, ngươi phải lấy đại cục làm trọng.”
Ta cười: “Tướng quân dẫn binh đ.á.n.h giặc dựa vào mưu lược và tướng sĩ, không phải dựa vào một nữ nhân trong kinh thành thay chàng đổ m.á.u. Nếu Đại Ung rời khế gánh họa liền không giữ nổi cửa nước, vậy nuôi bao nhiêu binh mã để làm gì?”
Thượng thư đập bàn: “Làm càn!”
Hạ Văn lại không tức giận: “Tô cô nương, năm xưa cô tự nguyện ký khế. Nay chẳng qua chỉ nhờ cô giúp chàng thêm một lần. Triều đình sẽ ban cáo mệnh cho cô, ban thưởng cho họ ngoại của cô.”
“Năm xưa họ lừa ta rằng mỗi người gánh một nửa. Nếu biết mười phần thương tích đều rơi lên người ta, ta tuyệt đối không ký. Lấy đâu ra tự nguyện?”
Nụ cười trên mặt Hạ Văn nhạt đi.