“Đây là tiền hàng của chúng ta.”
Ngày hôm sau, ta dẫn buồm mới cùng hai mươi thuyền nương rời huyện Dư.
Lần này người đứng trên bến tiễn ta đông hơn trước.
Xuân Đào ôm một tấm vải dùng để luyện tay, lấy hết can đảm hỏi: “Đông gia, sau này ta cũng có thể theo thuyền tới Phúc Châu sao?”
“Ngươi luyện thuần thục việc trong tay, học cho rõ sổ sách.”
“Đợi xưởng thuyền cần người, ta sẽ dẫn ngươi đi.”
Mắt nàng lập tức sáng lên.
Thuyền đi rất xa, ta vẫn thấy họ đứng trên bến vẫy tay.
Gió từ phía sau đẩy cánh buồm, mang theo vị muối, cũng mang theo mùi khô ráo của vải phơi dưới nắng.
Chuyến đi Nam Dương hung hiểm hơn ta tưởng.
Lục Tự Bạch dẫn thuyền đội tới một đảo cảng mới được phát hiện để đổi d.ư.ợ.c liệu và hương liệu.
Vùng biển ấy nhiều đá ngầm, hải tặc cũng lắm.
Vệ Hành chia người trên thuyền thành mấy đội, dạy chúng ta xem cờ hiệu, thắt nút dây và truyền tín hiệu lửa.
Nàng bảo ta theo thuyền trưởng học nhận sao.
Đêm xuống, boong thuyền yên tĩnh, chỉ còn tiếng sóng vỗ vào mạn.
Thuyền lão đại chỉ những vì sao trên trời, nói cho ta biết ngôi nào phải thẳng với mũi thuyền, khi mây che trăng thì phải nhìn dòng triều thế nào.
Ta học rất chậm, thường xuyên nhớ lẫn phương hướng.
Vệ Hành không cười ta, mỗi lần chỉ xoay tấm gỗ lại, bảo ta tính thêm lần nữa.
“Trên biển không sợ học chậm, chỉ sợ tự cho rằng mình đã biết.”
Khi thuyền tới đảo Lộ Môn bổ sung nước ngọt, thuyền đội tạm dừng hai ngày.
Đảo nhỏ tựa vào một vịnh tránh gió tự nhiên, trên bờ có mấy chục hộ ngư dân.
Nam nhân phần lớn ra khơi, phụ nhân ở lại phơi cá, vá lưới, trông trẻ.
Họ thấy thuyền chúng ta thì vây quanh xem buồm, lúc sờ đến lớp vải dầu chống ẩm, mắt ai nấy đều sáng lên.
Một lão phụ chống gậy trúc nói với ta rằng mỗi năm bão đều làm hỏng hơn mười cánh buồm trên đảo.
Nhà ngư dân tích cóp nửa năm mới may nổi một cánh buồm, gió lớn vừa tới lại phải vay nợ làm lại.
Nam nhân trên đảo muốn học dệt buồm nhưng ngày thường không có ai dạy.
Phụ nhân biết đan lưới, lại không nắm được cách chọn sợi gai và pha dầu trẩu.
Nghe xong, ta dẫn Xuân Đào cùng mấy thuyền nương chuyển số dây gai dư trên thuyền xuống.
Lục Tự Bạch hỏi ta muốn làm gì.
“Dạy họ dệt một cánh buồm nhỏ.”
“Buồm thuyền lớn quá phức tạp, nhưng buồm vuông dùng cho thuyền đ.á.n.h cá có thể học trước.”
Lục Tự Bạch nhìn sắc trời.
“Chỉ dừng hai ngày.”
“Hai ngày đủ để họ biết bước đầu phải làm thế nào.”
“Phần còn lại, ta để lại bản vẽ.”
Vệ Hành hất trường thương ra sau lưng, trực tiếp gọi binh sĩ tới dựng giá.
“Ta cũng đi chẻ cọc gỗ.”
“Vọng Thư, ngươi nói xem phải xếp sợi thế nào.”
Ta bận liền hai ngày.
Ngày đầu dạy chọn gai, se sợi, thử dầu.
Tay các phụ nhân đều rất khéo, làm lưới quen rồi nên thắt nút còn nhanh hơn người mới trên thuyền.
Ngày thứ hai, chúng ta trải vải buồm đã cắt lên bãi cát, gia cố chân buồm dọc theo mép rồi gắn vòng gỗ.
Một cô nương tên A Man mới mười sáu tuổi, trên tay đầy những vết xước nhỏ do dây câu siết ra.
Nàng lén hỏi ta: “Khương nương t.ử, nữ nhân cũng có thể lên thuyền lớn sao?”
Ta đang chỉ nàng đường kim, nghe vậy liền ngẩng đầu.
“Có lên được hay không phải xem ngươi có biết bơi, có chịu nổi gió hay không, cũng phải xem trên thuyền có thiếu người không.”
“Nếu muốn đi, ngươi phải học bản lĩnh cho vững.”
A Man c.ắ.n môi.
“Cha ta nói trên biển nguy hiểm, muốn ta gả vào đất liền.”
“Trên biển quả thật nguy hiểm.”
Ta đưa nàng một đoạn dây cáp.
“Nhưng nếu ngay cả mình muốn sống cuộc đời thế nào cũng không nói, người khác sẽ chỉ thay ngươi quyết định.”
“Ngươi cứ dệt cho xong cánh buồm này trước.”
“Đợi thuyền đội lần sau đi ngang, ta sẽ xem tay nghề của ngươi.”
Nàng nhận dây, trong mắt như vừa thắp lên một ngọn đèn nhỏ.
Chập tối, cánh buồm mới được treo lên con thuyền đ.á.n.h cá cũ nhất đảo.
Gió từ cửa vịnh thổi vào, mặt buồm khẽ rung rồi căng đầy.
Chủ thuyền là thúc phụ của A Man, kích động đến mức đi quanh thuyền hai vòng, nhất quyết nhét hết cá khô ướp ba năm trong nhà cho chúng ta.
Vệ Hành ôm một bao cá khô lớn, cười đến không đứng thẳng nổi.
“Khương Vọng Thư, ngươi dạy một cánh buồm, đổi về nửa thuyền cá.”
Lục Tự Bạch đứng cạnh xem sổ, nghiêm túc gật đầu.
“Vụ mua bán này không lỗ.”
Ta cầm một miếng cá khô c.ắ.n thử, mặn đến tê lưỡi.
Xuân Đào ôm túi nước bên cạnh cười ta, ta cũng không nhịn được cười theo.
Đêm ấy, thuyền trưởng tới báo, nói ngoài vịnh có hai chiếc thuyền nhanh lạ mặt vòng qua vòng lại đã lâu.
Cờ treo trên cột buồm không đúng hiệu, giống đám thủy phỉ thường cướp hàng vùng này.
Vệ Hành lập tức thu nụ cười, ra lệnh dập quá nửa số đuốc trên bờ, lại bảo dân đảo trốn vào động đá sau núi.
Lục Tự Bạch trải hải đồ ra, hỏi thuyền trưởng: “Có thể đi theo thủy đạo phía bắc ra ngoài không?”
Thuyền lão đại lắc đầu.
“Phía bắc có bãi cạn, thuyền lớn của chúng ta đi đêm không vững.”
“Nếu cố xông qua, ngược lại sẽ bị chúng chặn giữa đá ngầm.”
Ta nhìn cửa vịnh ngoằn ngoèo trên bản đồ, chợt nhớ ban ngày khi dạy A Man dệt buồm, ta từng thấy bãi triều phía nam có một rãnh nước nhỏ.
Lúc thủy triều xuống, rãnh rất cạn, nhưng khi nước lên có thể cho thuyền nhỏ đi qua.
“Thuyền lớn không ra được, thuyền nhỏ thì có thể.”
Ta nói.
“Trên thuyền còn mấy cánh buồm dự phòng, thay lên thuyền đ.á.n.h cá của dân đảo.”
“Để phụ nhân và trẻ nhỏ men theo rãnh nước phía nam vòng vào vịnh trong trước.”
“Chúng ta để thuyền trống ở đây, chờ chúng mắc câu.”
Thuyền lão đại sửng sốt rồi lập tức ngồi xổm xuống xem kỹ hải đồ.