Khi ấy, ta vẫn chưa hiểu tại sao hiểu biết lại có thể khiến người ta c.h.ế.t.
Mãi đến rất lâu về sau, ta mới biết lời bà chẳng sai chút nào.
Tướng quân tên Hoắc Kỳ.
Thuở tiên đế còn tại vị, ông ta chỉ là một giáo úy nhỏ trấn giữ nơi biên thùy.
Về sau thiên hạ rối ren, các thế lực khắp nơi nổi dậy, ông ta nhân thời thế hỗn loạn dẫn quân tiến về phương bắc, lần lượt chiếm Kế Châu và Yên Châu, rồi tự xưng Trấn Bắc tướng quân.
Triều đình khi ấy đã suy yếu, không còn đủ binh lực kéo quân đến hỏi tội, đành mặc nhiên thừa nhận địa vị của ông ta.
Nhìn bề ngoài, Hoắc Kỳ không giống một người hung tàn.
Khuôn mặt ông ta vuông rộng, cằm đầy đặn, giữa hai hàng mày còn phảng phất nét thật thà của một người dân quê.
Chỉ có điều, khi vung đao g.i.ế.c người, vẻ thật thà ấy cũng chưa từng biến mất.
Có lần ông ta đi tuần trong quân doanh, bắt gặp một binh sĩ có vết thương ở chân đã thối rữa, bên trong còn lúc nhúc giòi.
Hoắc Kỳ không gọi quân y.
Ông ta rút đao khỏi vỏ, tự tay c.h.é.m lìa phần chân từ đầu gối trở xuống, nhanh gọn như đang bổ một quả dưa.
“Có đau không?”
Ông ta cúi xuống hỏi.
Người lính c.ắ.n c.h.ặ.t khúc gỗ trong miệng, mồ hôi tuôn như tắm, nhưng vẫn không dám đáp lời trái ý.
“Không… không đau…”
Hoắc Kỳ bật cười sang sảng.
“Được lắm, quả nhiên là nam nhi có khí phách!”
Ông ta lập tức thưởng cho người ấy mười lượng bạc.
Vài ngày sau, binh sĩ kia c.h.ế.t vì độc từ vết thương lan vào m.á.u.
Mười lượng bạc chưa kịp dùng cũng được người trong quân thu về.
Hoắc Kỳ là người như thế.
Khi cao hứng, ông ta có thể thưởng cho ngươi vô cùng hậu hĩnh.
Khi không vừa lòng, ông ta cũng có thể lấy mạng ngươi trong một ý niệm.
Sự sống c.h.ế.t của người bên cạnh chưa từng phụ thuộc vào công bằng, mà chỉ phụ thuộc vào tâm tình của ông ta lúc ấy.
Ta vào phủ được ba tháng thì đúng dịp Hoắc Kỳ tròn bốn mươi tuổi.
Quà mừng từ các quan viên và hào tộc chất đầy chính sảnh, kéo dài đến tận bức bình phong đá ngoài sân.
Yến tiệc liên tiếp ba ngày ba đêm không dứt.
Trong mấy ngày ấy, số món ta phải thử đã vượt quá một trăm.
Đầu lưỡi tê cứng, vị giác gần như biến mất, ta chỉ có thể chạy ra hậu viện súc miệng bằng nước giếng lạnh rồi quay lại tiếp tục công việc.
Sáng ngày thứ tư, thân thể ta cuối cùng không chịu nổi nữa.
Ta ngã xuống cạnh chum nước, mất hết ý thức.
Khi tỉnh lại, toàn thân đã ướt sũng vì một chậu nước lạnh vừa bị dội thẳng xuống người.
Quản sự cầm chiếc chậu trống đứng trước mặt, cúi xuống nhìn ta.
“Chưa c.h.ế.t sao?”
Ông ta đưa chân đá nhẹ vào bắp chân ta.
“Chưa c.h.ế.t thì mau đứng lên. Tướng quân sắp dùng điểm tâm.”
Đầu óc ta choáng váng, hai chân không còn chút sức lực, nhưng vẫn phải chống tay xuống đất, chậm chạp bò dậy.
Bữa sáng hôm ấy của Hoắc Kỳ có một bát cháo tổ yến.
Khi ta dùng thìa bạc khuấy qua, vài sợi đỏ thẫm bỗng nổi lên giữa lớp cháo trắng.
Tim ta lập tức đập mạnh.
Đó là m.á.u tươi.
Máu còn chưa kịp đông.
Ta nâng bát lên gần mặt, cẩn thận phân biệt từng mùi hương.
Bên dưới mùi m.á.u tanh ngọt còn ẩn một mùi cay thơm vô cùng mỏng, thoạt tiên giống hoa tiêu, ngửi kỹ lại như quế, nhưng thực chất không phải cả hai.
Đó là mã tiền t.ử.
Có người đã nghiền mã tiền t.ử thành bột, hòa vào m.á.u, rồi trộn lẫn với những hạt kỷ t.ử đỏ trong cháo tổ yến.
Nếu chưa từng được lão chưởng quầy tiệm t.h.u.ố.c cho ngửi loại d.ư.ợ.c liệu ấy, ta nhất định cũng không nhận ra.
Ta đặt bát cháo xuống, hướng về phía quản sự khẽ lắc đầu.
“Món này không sạch.”
Ta nói nhỏ:
“Không thể đưa lên, phải đổi bát khác.”
Hoắc Kỳ đang ngồi sau án lau thanh bội kiếm.
Ông ta nghe thấy liền ngước mắt nhìn sang.
“Có gì bên trong?”
“Mã tiền t.ử.”
Hoắc Kỳ đặt kiếm xuống, nét mặt chẳng những không hoảng sợ mà còn thoáng hiện ý cười.
“Lại có người không muốn để ta sống sao?”
Ông ta nói như thể đang nhắc đến một chuyện rất đỗi bình thường.
Mười ba người làm việc trong nhà bếp đều bị áp giải tới.
Quản sự tra hỏi từng người, từ đầu bếp đứng đầu cho đến tiểu nha hoàn chuyên nhóm lửa.
Không ai nhận tội.
Hoắc Kỳ ngồi nghe chưa được bao lâu đã mất kiên nhẫn.
“Đem g.i.ế.c.”
Ông ta chỉ phất tay một lần.
“Không cần giữ lại người nào.”
Mười ba t.h.i t.h.ể sau đó bị treo trên cây hòe già cạnh nhà bếp.
Gió đông thổi tới, từng thân người lắc lư giữa không trung như những chiếc bóng bị bỏ quên.
Ta đứng dưới mái hành lang nhìn từ xa, bụng dạ cuộn lên dữ dội.
Một luồng chua xót trào đến cổ họng, nhưng ta chẳng thể nôn ra thứ gì.
Suốt ba ngày qua, ta còn chưa được ăn nổi một bữa trọn vẹn.
Sau chuyện ấy, người trong phủ bắt đầu biết đến ta.
Họ nói tỳ nữ thử thức ăn mới tới có đôi chút bản lĩnh, ngay cả mã tiền t.ử cũng nhận ra được.
Ánh mắt bà Trần dành cho ta từ đó trở nên nặng nề hơn trước.
“Thật sự là ngươi đã nhận ra sao?”
Bà kéo ta sang một góc rồi hỏi:
“Ai từng chỉ ngươi?”
“Lão chưởng quầy tiệm t.h.u.ố.c trong trấn.”
Ta đáp thật.
“Ta chẻ củi cho ông ấy nửa tháng, đổi lấy việc ông ấy dạy ta nhận biết vài thứ.”
Bà Trần im lặng rất lâu.
Đến khi ngọn lửa trong bếp gần tàn, bà mới chậm rãi lên tiếng:
“Từ nay về sau, cho dù có nhận ra, ngươi cũng nên giả vờ không biết.”
Ta nhìn bà, không hiểu.
Bà cũng không giải thích thêm.
Đầu xuân năm ấy, tin Hoắc Kỳ chuẩn bị cưới vợ truyền khắp phủ.
Người sắp trở thành tân phu nhân mang họ Bùi, là đích nữ của Bùi gia tại Kế Châu.
Bùi gia đã sinh sống và gây dựng thế lực ở vùng đất này hơn trăm năm, ruộng đất trải rộng, trong tay còn nuôi mấy nghìn tư binh.
Hoắc Kỳ muốn cưới không chỉ là một nữ t.ử.
Thứ ông ta cần hơn chính là lương thảo, tiền bạc cùng binh mã phía sau nàng.