Da giòn, thịt mềm, hương vị đậm mà không ngấy, đến mức không ít vương công quý tộc sai tiểu tư tới xếp hàng ngoài cửa chỉ để mua được một con vừa ra lò.
Tiểu nhị vừa bày thức ăn vừa cười với Bảo Nương rằng con vịt này chính tay chưởng quỹ canh lửa, đặc biệt giữ lại cho công chúa, bánh bao canh cũng do ta tự tay làm, hôm nay muội thật có lộc ăn.
Bảo Nương đã sớm cúi đầu ăn đến say mê.
Ta bỏ sổ sách sang một bên, ngồi xuống cuốn bánh tráng kẹp thịt vịt cho muội, nghe muội thao thao bất tuyệt kể hôm nay học được chiêu mới gì.
Mãi một lúc sau ta mới nhớ ra Ứng Lịch Sanh, bèn bảo hắn cũng ngồi xuống dùng chút trà.
Bị bỏ mặc từ nãy đến giờ, hắn chẳng giận, chỉ mỉm cười tự rót trà uống.
Ta đành khách sáo nói quán nhỏ chẳng có gì quý để tiếp đãi.
Ứng Lịch Sanh nhìn Bảo Nương ăn ngon lành, vẻ mặt bỗng trở nên nghiêm túc như chợt nhớ ra chuyện lớn.
Ta hỏi hắn có chuyện gì.
Hắn đặt chén trà xuống, xoa bụng nói rằng bản thân cũng chưa ăn cơm trưa, bụng đã đói đến cồn cào, không biết chưởng quỹ có chút cơm canh nguội nào có thể ban cho hắn một miếng hay không.
Ta không nhịn được bật cười, lập tức sai tiểu nhị đem thêm một l.ồ.ng bánh bao canh, rồi xẻ thêm vịt cho hắn.
Vị Thái t.ử này quả thật thú vị hơn vẻ ngoài lạnh nhạt rất nhiều.
Hắn cũng không khách sáo, cầm bát đũa lên là ăn.
Dáng ăn vẫn tao nhã, nhưng tốc độ tuyệt đối không chậm.
Hai huynh muội còn suýt tranh nhau miếng bánh cuối cùng.
May mà tiểu nhị kịp bưng lên một bát chè khoai dẻo ướp lạnh, mới dỗ được cả lớn lẫn nhỏ.
Ăn no xong, Bảo Nương lại kể hết chuyện trong ngày, cuối cùng mới chịu theo Ứng Lịch Sanh về phủ.
Ta chống chân tiễn bọn họ ra ngoài.
Trời đã tối, ta chỉ lo dặn dò Bảo Nương đủ điều, chẳng để ý sắc mặt Ứng Lịch Sanh.
Bảo Nương thò đầu khỏi xe, còn không quên dặn ngày mai làm thêm chè khoai dẻo, phải cho thật nhiều nước đường.
Ứng Lịch Sanh cười mắng muội chỉ biết ăn, A Tỷ ngày ngày đã đủ bận với quán mà còn phải chiều khẩu vị của muội.
Thấy tình cảm huynh muội hai người ngày càng khá, ta thật lòng yên tâm.
Ta vừa cười vừa ngẩng lên, đúng lúc bắt gặp ánh mắt của Ứng Lịch Sanh.
Không kịp thu lại nụ cười, ta chỉ đành cúi đầu nói hẹn ngày gặp lại.
Hắn nhìn ta một lúc rồi đáp: “Quý cô nương, ngày mai gặp.”
Ta còn đang lấy làm lạ vì sao hắn khẳng định như vậy thì sáng hôm sau đã hiểu.
Ứng Lịch Sanh dẫn tới một thầy t.h.u.ố.c nổi tiếng về xương khớp.
Hóa ra hắn vẫn nhớ chuyện cảm tạ ta.
Sau khi xem chân, thầy t.h.u.ố.c nói vết thương đã quá lâu, khớp xương dính sai vị trí.
Nếu muốn hồi phục, chỉ có thể bẻ rời phần xương đã liền, sau đó đặt lại cho đúng.
Cách chữa ấy cực kỳ đau đớn, phần lớn người thường không chịu nổi.
Sắc mặt Ứng Lịch Sanh trầm xuống.
Bảo Nương c.ắ.n môi đến trắng bệch, trên mặt đầy áy náy.
Ta suy nghĩ rồi hỏi thầy t.h.u.ố.c có từng nghe Ma Phí Tán hay chưa.
Ta không muốn cả đời phải sống với một cái chân tật.
Ta cũng muốn chạy, muốn nhảy, muốn đi thật xa bằng chính đôi chân mình.
Chỉ cần còn một tia hy vọng, ta nhất định thử.
Cuối cùng, dưới sự chuẩn bị của thầy t.h.u.ố.c cùng sự kiên trì của Bảo Nương và Ứng Lịch Sanh, ta ở lại Phủ Thái t.ử chữa chân.
Ta đã đ.á.n.h giá quá thấp cơn đau khi bẻ xương đặt lại.
Ngay cả đã dùng Ma Phí Tán, cơn đau ấy vẫn xuyên thẳng vào xương tủy.
Ta c.ắ.n c.h.ặ.t mảnh vải trong miệng, đến mức nếm thấy vị m.á.u tanh.
Ứng Lịch Sanh lại ngồi ngay bên cạnh.
Giữa cơn mê man ta vẫn cảm thấy chuyện này hết sức kỳ quái.
Dù ta là người chân tật, nhưng chân của một cô nương nào có thể để nam t.ử tùy tiện nhìn như thế.
Thầy t.h.u.ố.c lau mồ hôi, cảm thán rằng ta thật sự có khí phách, từ đầu đến cuối không hề rên một tiếng.
Ta cố giữ tỉnh táo.
Ứng Lịch Sanh đột nhiên nói: “Nếu đau thì cứ kêu ra.”
Ta chỉ còn đủ sức cười méo xệch rồi bảo hắn mau ra ngoài.
May thay, thời khắc đau đớn nhất cuối cùng cũng qua.
Thầy t.h.u.ố.c nối xương xong, cố định khớp rồi căn dặn mấy ngày không được xuống giường.
Ta vừa nhắm mắt đã lập tức ngất đi.
Những ngày sau đó đầu óc ta lúc tỉnh lúc mê, chỉ nhớ Bảo Nương thường xuyên ngồi cạnh với vẻ mặt lo lắng, còn Ứng Lịch Sanh thỉnh thoảng cũng tới thăm.
Hắn giữ lễ rất đúng mực, chưa từng làm gì vượt quy củ.
Chỉ có ánh mắt đôi khi dừng trên người ta hơi lâu, mang theo một chút gì đó ta không muốn nghĩ sâu.
Bị bắt nằm yên trên giường, ta chỉ còn cách ôm sổ sách xem cho qua ngày, đồng thời gửi tin bình an về cho Cha và A Nương.
Nhờ phúc của Bảo Nương, hai người hiện đã chuyển đến một tiểu viện thanh tịnh ngoài thành, sống cuộc đời nhàn nhã của một nhà có của.
Quản gia lớn của Phủ Thái t.ử tên Vương Dung ngày nào cũng ghé hỏi thăm.
Hắn theo Ứng Lịch Sanh từ nhỏ, gần như nhìn Thái t.ử lớn lên.
Một hôm Vương Dung thuận miệng kể rằng Tam công chúa và Ngũ hoàng t.ử gần đây rất được tiếng tốt.
Nhân sinh thần Liễu Quý phi, bọn họ mở Thí Ân Đường, tuyên bố đổi bạc chúc thọ thành gạo phát cho dân nghèo, lại thường xuyên cùng nhau xuất hiện, bày ra dáng vẻ mẹ hiền con hiếu, huynh muội hòa thuận.
Ta nghe xong chỉ cười.
Ta nói lương thực mới còn chưa vào vụ, giá gạo lúc này rất cao, vậy mà sổ sách của Bảo Khang Quán cho thấy một nghìn lượng bạc cũng chưa chắc mua đủ lượng gạo tương ứng.
Nếu Thí Ân Đường chỉ có ngân sách chừng ấy mà vẫn phát được lương thực suốt cả tháng thì trong đó hẳn phải có điều không đúng.